Dân tộc Chứt là một trong bốn dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường trong ngữ hệ Nam Á, bao gồm các nhóm địa phương như: Sách, Rục, Arem, Mày, Mã Liềng. Họ cư trú chủ yếu ở các huyện miền núi như Minh Hóa, Tuyên Hóa, Bố Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình và một số người thuộc nhóm Mã Liềng cư trú ở hai xã Hương Liên và Hương Vĩnh thuộc huyện Hương Khê của tỉnh Hà Tĩnh. Quê hương xưa của người Chứt thuộc địa bàn cư trú của người Việt ở hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Vì nạn giặc giã, thuế khóa nặng nề nên họ phải chạy lên nương náu ở vùng núi, một số dần dần chuyển sâu vào vùng phía tây thuộc hai huyện Minh Hóa và Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Theo gia phả của một số dòng họ người Việt trong vùng, hai nhóm Rục và Sách cư trú tại vùng núi này ít nhất đã được trên 500 năm. Theo số liệu điều tra dân số năm 2019, người Chứt là tộc người có dân số ít thứ 12 ở nước ta với tổng dân số là 7.513 người, trong đó có 3.793 nam và 3.720 nữ.
Trước đây, người Chứt sống bằng nông nghiệp nương rẫy du canh và săn bắn hái lượm. Trừ nhóm Sách sống bằng nông nghiệp, các nhóm khác hái lượm và săn bắn chiếm vị trí quan trọng, thậm chí là nguồn sống chính trong những năm mất mùa. Công cụ sản xuất gồm rìu, rựa, gậy chọc lỗ, nơi làm ruộng có thêm cày, bừa. Các giống cây trồng chính là ngô, sắn, đỗ, lúa. Từ khi định cư, người Chứt đã nuôi trâu, bò phục vụ cày bừa, làm sức kéo. Hiện nay, các nhóm người Chứt đều canh tác ruộng nước, nhưng về cơ bản, đời sống của người Chứt vẫn còn gặp nhiều khó khăn nên hằng năm họ vẫn nhận nhiều hỗ trợ từ Nhà nước.
Người Chứt gọi làng là cavel, mỗi làng thường chỉ có dăm bảy hoặc mười gia đình của một dòng họ cư trú, đôi khi các gia đình trong một họ lại cư trú ở nhiều làng khác nhau. Ðứng đầu mỗi làng là pừ cavel, nghĩa là bố của làng do dân bầu. Giúp việc cho pừ cavel là các già làng, gồm những người từ 50 tuổi trở lên. Hiện nay, các thôn, làng được vận hành theo tổ chức hành chính của Nhà nước, đứng đầu là trưởng thôn, có sự hỗ trợ của phó trưởng thôn, an ninh và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp thực hiện các công việc chung hoặc liên quan đến các tổ chức. Sinh hoạt tập thể là hình thức sinh hoạt cộng đồng quan trọng nhất trong làng thường được tổ chức vào những dịp lễ tết nông nghiệp.
Gia đình ở người Chứt chủ yếu là gia đình nhỏ, gồm hai thế hệ: bố mẹ và con cái. Gia đình có ba thế hệ rất ít. Con trai sau khi lấy vợ thường tách ra ở riêng. Người Chứt theo chế độ phụ hệ. Người đàn ông là chủ gia đình, có quyền quyết định mọi việc lớn trong gia đình.
Khi còn cư trú ở trong rừng trước đây, người Chứt có tập quán ở trong hang đá, mái đá, nơi có các hố nước. Từ những năm 1960, sau khi định cư, nhóm người Mày, Mã Liềng, Arem ở nhà sàn còn người Sách, Rục ở nhà đất. Nét nổi bật của ngôi nhà sàn người Chứt (nhóm Arem) là hai chiếc khau cút được bố trí ở hai đầu nóc nhà. Khau cút được làm từ hai đoạn cây lồ ô hoặc gỗ buộc chéo nhau tạo thành một góc vuông, nửa trên được vót nhọn, nửa dưới buộc vào rui của mái nhà. Khau cút không những để giữ cho đầu mái nhà khỏi bị gió lật mà còn có ý nghĩa xã hội cơ bản đối với cư dân ở đây – là dấu hiệu để nhận biết đồng tộc. Như vậy, khau cút không những là hiện tượng văn hóa phổ biến ở các cư dân nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me, Tày - Thái mà còn là một trong những nét văn hóa của cư dân Việt - Mường.
Về bố trí mặt bằng, nhà của người Mày, Mã Liềng được chia làm ba gian: gian ngoài, gian giữa, gian buồng. Nhà của ba nhóm Sách, Rục, Arem chỉ có hai gian. Hiện nay, nhà của người Chứt do Nhà nước và các tổ chức tài trợ xây dựng.
Người Chứt không biết trồng bông dệt vải. Trước đây, trang phục truyền thống của họ chủ yếu là áo, khố được làm bằng vỏ cây rừng như cây sui, cây sàng, cây si... Ngày nay, người Chứt đều có xu hướng mặc theo nhóm Khùa, Ma Coong (dân tộc Bru-Vân Kiều) hoặc người Lào ở bên kia biên giới. Hiện nay, hầu hết các nhóm người Chứt đều mặc như người Kinh trong vùng, một số ít tự mua trang phục ở chợ hoặc các cửa hàng, còn lại phần lớn mặc đồ do các đoàn thiện nguyện tặng.
Lương thực chủ yếu của người Chứt là cây nhúc, ngô, sắn, gạo. Họ thường ăn hai bữa chính, buổi sáng (6-7 giờ) và chiều (16-17 giờ). Bữa trưa thường gồm có khoai, sắn luộc. Những khi mất mùa hoặc giáp hạt, người dân phải ăn bột nhúc hoặc một số củ, quả rừng thay cơm. Ngoài ra, họ cũng thích uống rượu, hút thuốc và ăn trầu. Ngày nay, sản xuất lương thực vẫn không đủ cho nhu cầu của gia đình. Do đó, Nhà nước và các chương trình thiện nguyện vẫn hỗ trợ thường xuyên cho các nhóm tộc người này.
Người Chứt thờ tổ tiên, thần linh và có thế giới quan phong phú. Quan niệm vạn vật và con người có linh hồn nên cả năm nhóm người Chứt đều tin vào sự hiện diện của các ma như ma rừng, ma núi, ma khe, ma cây, ma bếp; người sống có vía, khi chết biến thành ma.
Trai gái đến tuổi trưởng thành được tự do tìm hiểu yêu đương. Người Chứt theo chế độ một vợ, một chồng. Trước khi cưới, nhà trai phải chọn ông mối, đi dạm hỏi vài lần. Lễ vật quan trọng nhất thiết phải có thịt khỉ sấy khô. Người Chứt có tục ở rể 2-3 năm sau lễ ăn hỏi. Hiện nay, cưới hỏi của người Chứt đã chịu ảnh hưởng của người Kinh trong vùng từ khâu tổ chức cho đến các lễ vật trong đám cưới.
Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Chứt được giới thiệu trong không gian các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường ở tầng 1 của tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Võ Thị Mai Phương
Ảnh: BTDTHVN, Võ Thị Mai Phương