Người Dao là một trong các dân tộc thiểu số có số
dân tương đối đông ở Việt Nam (891.151 người, theo Kết quả
điều tra dân số năm 2019), có nguồn gốc từ
Trung Quốc, di cư vào Việt Nam từ thế kỷ XII đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là Kềm Miền,
Kiềm Miền, Kìm Mùn, Kìm Mần, Bièo Mùn, Liào Mần, Dù Miền, Dìu Miền, Yìu Miền.
Ngoài ra, trước kia, họ còn được gọi là Động, Xá, Trại, Dạo, Mán. Người Dao gồm nhiều nhóm địa phương: Dao Đỏ (Dao Cóc
ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Đại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam
đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc mùn), Dao
Tiền (Dao Đeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao
Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao Áo Dài). Họ
sinh sống trên cả ba địa hình là núi cao, vùng giữa và vùng thấp.
Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác
phổ biến ở người Dao. Tùy từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay
khác nổi trội như: người Dao Quần Trắng, Dao Áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm
ruộng nước trong khi người Dao Đỏ lại thực hành thổ canh hốc đá. Phần lớn các
nhóm Dao khác làm nương du canh hoặc định canh. Cây lương thực chính là lúa,
ngô; các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai… Họ chăn nuôi trâu bò, lợn,
gà ở vùng lưng chừng núi; những cư dân ở vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa
dùng vải nhuộm chàm. Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Trước
đây, nhiều nơi còn làm súng hỏa mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang song
đến nay thực hành này không còn tồn tại theo các quy định hiện hành. Nghề thợ
bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân,
vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu… Nhóm Dao Đỏ và Dao Tiền có
nghề làm giấy bản. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm
đường mật, làm hương, làm ngói. Ngoài ra, người Dao còn nổi tiếng với nghề làm
thuốc nam.
Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày (bữa trưa và
bữa tối); chỉ vào những ngày mùa bận rộn, họ mới ăn thêm bữa sáng. Họ chủ yếu
ăn cơm, ở một số nơi lại ăn cháo hoặc ngô nhiều hơn ăn cơm. Người Dao cũng nấu
cơm lam trong trường hợp đi rừng hoặc đi đường xa. Vào dịp lễ Tết, họ thường
làm nhiều loại bánh: bánh chưng, bánh dày, bánh bột, bánh ngô, bánh sắn, bánh
kê, bánh tro, bánh rán, bánh trôi, bánh nếp. Người Dao uống rượu cất, ở một vài
nơi lại uống rượu hoẵng không qua chưng cất, có vị chua và ít cay. Họ thường
hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cày hay tẩu. Tục ăn trầu vẫn còn phổ biến ở
những người già.
Trước đây, đàn ông Dao để tóc dài, búi sau gáy hoặc để
chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Họ sử dụng hai loại áo: áo dài
và áo ngắn. Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng; bộ trang phục thông thường gồm áo dài,
yếm, váy hoặc quần song giữa các nhóm có sự khác biệt. Y phục thêu rất sắc sỡ
với nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá
cây. Người Dao Tiền còn có kỹ thuật tạo hoa văn bằng sáp ong với các hoa văn
hình gấp khúc, hình đồng tiền. Các nhóm Dao cũng thường có cách đội khăn khác
nhau.
Trước đây, người Dao sống du canh du cư nhưng hiện nay
hầu hết đã định cư. Mỗi làng có khoảng 20-30 nóc nhà. Những làng sống xen kẽ
với các dân tộc khác có thể lên tới 50 đến 60 nóc nhà. Nhà ở của người Dao rất
khác nhau. Tùy từng nơi mà họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Mỗi làng Dao có một người đứng đầu (trưởng bản) do dân
làng bầu chọn, phải là người có uy tín, biết cúng lễ, am hiểu phong tục tập
quán của dân tộc. Họ là người có quyết định cao nhất khi tiến hành chia đất trong
làng, giải quyết cho người ngoài đến sinh sống trên đất của làng, thời điểm
gieo cấy và thu hoạch mùa màng, quản lý nguồn tài nguyên và con người trong
phạm vi của làng. Đồng thời, họ còn là người đứng ra giải quyết các mâu thuẫn
trong nội bộ cộng đồng theo luật tục. Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là
các họ Bàn, Đặng, Triệu, Lý. Mỗi làng có hai đến ba họ cùng sinh sống. Các dòng
họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa
những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Người Dao tin theo các tín ngưỡng nguyên thủy, song các
nghi lễ nông nghiệp cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và
Đạo giáo. Bàn Vương được coi là thủy tổ của người Dao nên được cúng chung với
tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống, tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng
thành đều phải trải qua lễ cấp sắc, một nghi lễ vừa mang tính chất của Đạo
giáo, vừa mang dấu vết của lễ thành đinh xa xưa. Vào tháng Chạp hàng năm, trước Tết Nguyên đán
vài ngày, người Dao tổ chức Tết nhảy với mục đích cúng Bàn Vương và luyện âm
binh để bảo vệ cuộc sống và sinh hoạt của gia đình. Ngày nay, một số điệu múa
của Tết nhảy đã được cải biến để phục vụ sinh hoạt văn nghệ của đồng bào.
Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều
truyện cổ, bài hát, thơ ca, trong đó, truyện Quả bầu với nạn hồng thủy, Sự
tích Bàn vương đặc biệt rất phổ biến. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu
trong các nghi lễ tôn giáo, đám cưới, đám ma, lễ cấp sắc. Nhạc cụ của người Dao
gồm trống, thanh la, tù và, kèn, nhị... Trẻ em chơi gõ ống tre, thổi ống tra,
sáo, đàn môi… Trong số nhiều trò chơi dân gian, người Dao thích chơi đu, chơi
quay và đi cà kheo.
Tại khu trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam, hiện vật của dân tộc Dao được giới thiệu trong trưng bày về các dân
tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Các thông
tin về hiện vật và bài viết đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ: Việt, Pháp và
Anh.