Người Giáy có dân số 67.858 người (2019), là dân tộc di cư từ Trung Quốc vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm. Người Giáy có tên gọi khác là Nhắng, Giẳng. Họ sống chủ yếu ở các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Lai
Châu... Tùy từng nơi, họ chịu ảnh hưởng văn hóa của các dân tộc Tày,
Nùng, Thái, Hán nhưng vẫn giữ được tiếng mẹ đẻ và bảo lưu được nhiều nét văn
hóa truyền thống của dân tộc mình.
Người Giáy có nhiều kinh nghiệm canh tác lúa nước trên những triền ruộng
bậc thang. Bên cạnh đó, họ còn làm thêm nương
rẫy trồng ngô lúa, các loại cây có củ và rau xanh. Họ cũng trồng các loại cây
công nghiệp như thảo quả và chè; nuôi gia súc như trâu, bò, dê, lợn và các loại gia cầm. Thủy sản cũng là một
trong những sản phẩm chăn nuôi phổ biến của người Giáy. Họ nuôi chủ yếu là cá
trắm, cá chép và rô phi. Ngoài ra, họ còn
phát triển nghề rừng và một số nghề thủ công như đan lát và chế tác trang sức
bằng bạc, nghề mộc, làm đậu phụ, nấu rượu sắn và rượu gạo.
Người Giáy ăn cơm tẻ. Gạo được luộc cho chín dở rồi mới cho vào chõ đồ
lên như đồ xôi. Nước luộc gạo được dùng làm đồ uống. Họ còn chế biến nhiều loại
bánh độc đáo như: bánh chưng gù, bánh bỏng, bánh khảo, bánh trôi, bánh chay, bánh
ngô... và có một số món ăn đặc trưng như: thịt lợn quay, xúc xích, khau nhục. Nam
giới uống rượu, hút thuốc lào và thuốc lá.
Phụ nữ Giáy ở các địa phương khác nhau có trang phục
truyền thống khác nhau. Phụ nữ Giáy ở Tuyên Quang thường mặc váy xòe, dài quá đầu
gối, chiếc áo dài tứ thân, dài trùm mông, có hàng khuy vải cài bên nách; ống
tay áo rộng. Phụ nữ Giáy ở Lào Cai, Lai Châu lại không mặc váy mà mặc quần màu
đen, áo ngắn nhiều màu sắc, cài khuy bên nách. Quần của phụ nữ được may đơn giản,
hai ống rộng. Khăn đội đầu thường là chiếc khăn vuông nhuộm chàm. Nam giới mặc quần
lá tọa, áo cánh xẻ tà, mở khuy ngực.
Làng người Giáy đông đúc, có khi tới cả trăm nhà. Họ
ở nhà sàn (Cao Bằng), hoặc nhà trệt (Lào Cai, Lai Châu). Gian giữa bao giờ cũng
để tiếp khách và đặt bàn thờ tổ tiên. Mỗi cặp vợ chồng có một buồng nhỏ tại các
gian khác. Bếp đun đặt ở một gian.
Trên bàn thờ, người Giáy thường bày ba bát hương: bát lớn nhất ở giữa thờ thổ thần, thổ
địa, hai bát hương hai bên thờ chung tất cả những người đã mất trong gia đình.
Ngoài ra, người Giáy còn thờ thần
rừng, thần thổ công của làng. Hình thức thờ vật tổ (tô tem giáo) vẫn thể hiện
khá đậm nét ở tộc người này. Mỗi dòng họ thờ một con vật khác nhau, nghi thức
cúng bái cũng theo tập tính của loài vật đó. Để vận chuyển, họ dùng gánh bằng
dậu, gùi, ngựa thồ, trâu kéo.
Theo phong tục
Giáy, con cái theo họ cha. Nhà trai chủ động việc cưới xin, sau lễ cưới, cô dâu
về ở cùng gia đình nhà chồng, tuy vậy việc ở rể cũng
phổ biến. Trước kia,
người Giáy có tục “kéo
vợ”.
Đó là trường hợp cô gái và gia đình cô ta đồng ý nhưng nhà trai không đủ tiền của
để cưới hỏi đường hoàng, chàng trai phải tổ chức “kéo vợ”.
Hôn
nhân hỗn hợp giữa ba dân tộc Tày, Nùng, Giáy diễn ra khá phổ biến. Ngoài việc kết
hôn trong nước, một phụ nữ Giáy còn kết hôn với người Trung Quốc ở bên kia biên
giới. Trong mỗi dòng họ, trưởng họ vẫn giữ vai trò nhất định,
chịu trách nhiệm thờ cúng và tổ chức giỗ tổ hàng năm.
Người Giáy ăn tết như các dân tộc ở vùng Đông Bắc: Tết Nguyên đán, Thanh
minh, Đoan Ngọ. Lễ xuống đồng là ngày lễ
quan trọng nhất trong năm, được truyền giữ từ đời này sang đời khác, nếu không
vì lý do bất khả kháng thì năm nào cũng tổ chức lễ này. Theo quan niệm của người
Giáy, làm lễ vào ngày Thìn - tức là ngày Rồng thì sẽ được rồng phun mưa cho
ruộng lúa tốt tươi, không bị hạn hán. Nếu ngày Thìn đầu năm trùng với ngày Tết
thì lễ xuống đồng sẽ lùi lại vào ngày Thìn tiếp theo. Lễ xuống đồng diễn ra ở ngoài
ruộng. Mọi người sẽ cùng thắp hương khấn vái cầu cho năm mới mưa thuận gió hòa,
mùa màng bội thu, đời sống ấm no. Một
nghi thức không thể thiếu trong lễ xuống đồng của người Giáy là ném còn. Khi lỗ còn bị quả còn xuyên
thủng thì nghi thức ném còn kết thúc. Quả còn may mắn xuyên thủng lỗ còn sẽ được
người dân nhặt đem về đặt trong hũ gạo với niềm tin sẽ mang lại no ấm cho gia
đình. Đây không chỉ là một trò chơi thử thách kỹ năng, độ chính xác của người
chơi mà là một nghi thức mang ý nghĩa phồn thực. Quả còn xuyên qua lỗ còn tượng
trưng cho quan hệ tình dục, thể hiện sự âm dương giao hòa với mong muốn
mọi sự tốt lành, may mắn.
Trong kho tàng văn nghệ của người Giáy, có truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, câu đố, đồng dao..., có nhiều truyện
giải thích hiện tượng tự nhiên, có nhiều truyện thơ dài, có truyện kết hợp lời
kể với lời hát. Dân ca phong phú, gồm nhiều loại, mỗi loại có nhiều bài, điệu
khác nhau, đặc biệt các hình thức hát giao duyên nam nữ là sinh hoạt sôi nổi và
hấp dẫn. Người Giáy có bộ ba nhạc cụ truyền thống là trống, chiêng và pí lè,
thường được sử dụng trong các dịp lễ hội, đám cưới, đám tang. Họ có hai điệu
múa truyền thống là múa hoa đăng và múa quạt, và các trò chơi dân gian như kéo co, ném còn, bịt mắt bắt dê, đánh én.
Tại khu trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam, hiện vật của dân tộc Giáy được giới thiệu trong trưng bày về các dân tộc thuộc
nhóm ngôn ngữ Tày - Thái ở tầng 2 của tòa Trống đồng. Các thông tin về hiện vật và bài viết đều
được thể hiện bằng ba ngôn ngữ: Việt, Pháp và Anh.
Người viết: Trần Thị Thu Thủy
Ảnh: Bảo tàng DTHVN