Người Hmông là một trong các dân tộc thiểu số có số
dân tương đối đông ở nước ta (1.393.547 người,
theo kết quả điều tra dân số năm 2019), trước kia còn được gọi là người Mèo, mới
di cư vào Việt Nam cách đây 300 năm.
Họ sinh sống chủ yếu ở những vùng núi cao khoảng 1.000m so với mặt nước biển ở hầu khắp các tỉnh miền
núi Bắc Bộ, một số ở Bắc Trung Bộ. Người
Hmông có nhiều nhóm địa phương: Hmông Đơ (Hmông Trắng), Hmông Đu (Hmông Đen),
Hmông Lềnh (Hmông Hoa), Hmông Si (Hmông Đỏ), Hmông Jua (Hmông Xanh), Hmông Súa
(Hmông Hán), Na Miẻo. Sự phân biệt này một phần dựa trên sự khác nhau về trang
phục và ngôn ngữ.
Người Hmông trồng ngô, lúa, lúa mạch trên nương định canh
hoặc du canh; hiện nay nương du canh không còn tồn tại. Họ có truyền thống
trồng xen canh các cây ý dĩ, khoai, rau, bí, lạc, vừng, đậu trên nương cùng với
cây trồng chính. Đồng bào đã khai thác một số cây, con thế mạnh như: chè tuyết
đặc sản, sơn tra, thảo quả, phát triển đàn trâu, bò, ngựa, nuôi ong... Trong
các loại cây công nghiệp, lanh là cây trồng phổ biến, phục vụ trực tiếp cho
nghề dệt vải. Vải lanh dùng làm váy, may quần, áo, khâu bao đựng bột, làm mặt
chăn, địu v.v. Sản xuất thủ công nghiệp gồm các nghề: đan lát mây tre, làm đồ
gỗ, làm giấy, làm đồ trang sức, rèn, đúc nông cụ, vũ khí, làm nhang, nấu
rượu... phổ biến ở hầu hết các xã.
Nguồn
lương thực chủ yếu của người Hmông là ngô, lúa. Họ ăn hai bữa một ngày vào trưa
và tối; ăn 3 bữa/ngày vào ngày mùa. Trước kia, ngô thường được xay thành bột
làm mèn mén. Thường
ngày họ ăn gạo tẻ, còn gạo nếp thì được để dành giã làm bánh ăn trong các dịp
lễ, tết. Người Hmông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày.
Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Về trang phục, trừ nhóm Na Miẻo và nhóm Hmông Hán, các
nhóm Hmông khác đều mặc vải lanh. Theo quan niệm của đồng bào, người chết phải
có áo bằng lanh mới được đoàn tụ với tổ tiên. Trang phục phụ nữ Hmông gồm váy
xếp nếp, áo, tạp dề, xà cạp. Để tạo hoa văn trên trang phục, họ dùng nhiều kỹ
thuật trang trí: thêu, ghép vải và tạo hoa văn bằng sáp ong.
Người Hmông ở nhà trệt. Để chống gió, khí hậu lạnh, sương
mù ở vùng cao, nhà ở thường thấp, vững
chắc và kín đáo. Phía trước nhà là chuồng trâu, ngựa, lợn, gà, chỗ nuôi ong và
có kho để lương thực. Ở những địa hình tương đối bằng phẳng, người Hmông còn
trồng rau ở vườn trước và sau nhà, và làm hàng rào bảo vệ.
Người Hmông rất coi trọng dòng họ
gồm những người có chung tổ tiên. Đứng đầu dòng họ là trưởng họ, không phải là
vị trí cha truyền con nối mà do dòng họ bầu ra. Đó phải là người am hiểu phong
tục, biết cúng lễ, lý lẽ và có uy tín. Một số nơi, trưởng họ được xem như thầy
cãi lý cho dòng họ. Đối với người Hmông, ngoại hôn dòng họ là nguyên tắc cơ bản
trong hôn nhân. Những người cùng dòng họ, dù xa đến mấy đời, nếu “cùng ma”,
cũng không được lấy nhau. Người Hmông rất ít quan hệ hôn nhân với các dân tộc
khác. Họ có tục “cướp vợ”, một số nơi gọi là tục “kéo vợ”, tức người con trai
tổ chức kéo người con gái về nhà mình trước khi cưới.
Tín ngưỡng cổ truyền của người Hmông mang đậm tính chất đa thần với hệ thống “thần, ma” thuộc nhiều
loại, thành phần; trong đó, thờ cúng tổ tiên là một trong những sinh hoạt tín
ngưỡng quan trọng nhất. Bàn thờ gia tiên (xưv
cangz) đồng thời là bàn thờ ma nhà. Ngoài ra, trong nhà còn thờ ma bếp
khách (khaor chuz), ma bếp lò (khaor txul), ma cửa (khaor trôngx)... Những người biết nghề
thuốc, biết làm thầy cúng hoặc làm các nghề thủ công truyền thống còn thờ cúng
những vị tổ sư, tổ nghề của mình. Trước đây, đồng bào cũng cúng Thổ công (thưr tiv). Mỗi làng có một Thổ công, thường
được cúng vào những tháng nhất định trong năm, nhất là khi hạn hán, bệnh dịch xảy
ra trong làng. Từ đầu thế kỷ XX, đạo Kitô (Công giáo) đã được truyền vào vùng
dân tộc Hmông ở Sa Pa, Trạm Tấu nhưng một thời gian dài (1945-1985) không phát
triển được. Tuy nhiên, từ năm 1986 đến nay, do bị tuyên truyền nên ở một số
vùng, ngày càng có nhiều người Hmông theo tôn giáo ngoại lai với mức độ nhận
thức khác nhau.
Người Hmông có kho tàng văn nghệ dân gian phong phú với
các thể loại như: truyện thần kỳ, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười,
trường ca (Tiếng hát làm dâu, Tiếng hát mồ côi, Tiếng hát tình
yêu, Tiếng hát cưới xin, Tiếng hát đưa ma...), ca dao, tục
ngữ, thành ngữ..., phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và cuộc sống lao động,
chiến đấu của dân tộc Hmông. Trong đám cưới, người Hmông còn thực hành hát đố,
hát giải.
Tết quan trọng nhất của người Hmông diễn ra khoảng đầu
tháng Chạp âm lịch. Đây là thời khắc thiêng liêng để người Hmông tưởng nhớ tổ
tiên, tỏ lòng biết ơn trời, đất đã phù hộ mùa màng và cầu mong vụ mùa năm mới
tốt tươi. Trong những ngày hội đầu xuân (gâux
taox), nam nữ thanh niên thường
ca hát, nhảy múa, chơi các loại nhạc cụ như khèn, sáo, kèn lá, đàn môi và các trò chơi dân gian như: ném pao, cầu lông, đánh
quay, đẩy gậy...
Tại khu trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam, hiện vật của dân tộc Hmông được giới thiệu trong trưng bày về các dân
tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao ở tầng 2 của tòa Trống đồng. Các thông tin
về hiện vật và bài viết đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ: Việt, Pháp và Anh.