Ở Việt Nam, dân tộc Hoa còn được gọi là Khách, Hán, Tàu, Minh Hương... hoặc gọi theo tên quê gốc ở Trung Quốc: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Xìa Phống, Thông Nhằm... Người Hoa thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng), có dân số hơn 749.000 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2019), trong đó, hơn một nửa sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Người Hoa di cư vào Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc.
Người Hoa có hoạt động kinh tế năng động. Ở nông thôn, họ chủ yếu làm nông nghiệp (giàu kinh nghiệm trồng lúa nước, dược liệu, hương liệu lâu năm…); còn ở thành thị, họ có thành tựu trong nhiều lĩnh vực: công nghiệp, thương mại dịch vụ, tài chính - ngân hàng, giao thông vận tải, y dược. Tiểu thủ công nghiệp phát triển, nhất là các nghề làm gốm, làm nhang, làm giấy.
Xã hội của người Hoa có sự phân hóa sâu sắc. Gia đình nhỏ của người Hoa theo chế độ phụ quyền, đặc biệt đề cao vị thế và vai trò người đàn ông trong gia đình và dòng họ. Người Hoa thường sống tập trung trong các khu vực riêng. Tập quán bố trí nhà cửa theo hình chữ “Môn” hay chữ “Khẩu” là một nét văn hoá cổ truyền và độc đáo. Trong nhà thường treo câu đối, liễn, dán giấy hồng điều viết chữ Hán bằng mực nho để cầu Phúc, Thọ, Tài, Lộc, Khang, Ninh.
Tính cố kết tộc người là đặc điểm nổi bật ở cộng đồng người Hoa, thông qua mối quan hệ gia đình, dòng họ, tổ chức bang, hội và sử dụng ngôn ngữ tộc người. Sự cố kết này không chỉ phát huy sức mạnh tổng thể, nâng đỡ, tạo cơ hội cho mọi người trong cộng đồng gây dựng cơ nghiệp làm ăn mà còn có ý nghĩa trong việc tổ chức các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, góp phần gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống.
Hôn nhân của người Hoa không chỉ là sự gắn kết của hai cá nhân riêng lẻ mà còn là sự kết hợp của hai gia đình, dòng họ. Một trong những mục đích chính của hôn nhân là duy trì dòng dõi và gia tộc nên họ rất coi trọng việc có con trai nối dõi. Trước đây, họ thường kết hôn trong nội bộ tộc người và do cha mẹ quyết định. Hiện nay, giới trẻ người Hoa ngày càng có quyền quyết định hơn trong hôn nhân của mình. Các nghi thức trong đám cưới đã được giản lược nhiều nhưng họ vẫn duy trì một số phong tục tập quán như xem tuổi...
Tính tôn ti, trật tự bám rễ sâu trong truyền thống gia đình người Hoa; người cao tuổi rất được kính trọng. Họ thường tổ chức lễ mừng thọ cho người từ 60 tuổi trở lên, là một trong những nghi thức đặc sắc, thể hiện lòng hiếu đạo, tôn trọng ông bà, cha mẹ và tính trọng xỉ của người Hoa. Hiện nay, nét văn hóa này vẫn được duy trì phổ biến ở cả nông thôn và thành thị.
Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian của người Hoa là thờ cúng tổ tiên, dòng họ, các vị thần phù hộ (thiên, thần bếp, thổ địa, thần tài...) và thờ cúng trong cộng đồng (Thiên Hậu, Quan Công, Ngọc Hoàng, Lão Tử, Khổng Tử, thành hoàng, tổ sư nghề nghiệp…). Về tôn giáo, họ theo những tôn giáo lớn như Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành.
Văn hoá nghệ thuật truyền thống của người Hoa gồm nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch... với việc sử dụng nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt...)… Hát sơn ca (sán cố) là sinh hoạt văn nghệ dân gian được nhiều người ưa chuộng. Vào dịp hội hè, họ thường tổ chức múa lân, rồng, sư tử và biểu diễn quyền thuật với hề mặt nạ rất hấp dẫn. Các đoàn múa lân sư rồng của người Hoa đã đạt đến nghệ thuật đỉnh cao, nổi tiếng với nhiều tuyệt kỹ, độc đáo, sinh động như các bài múa trên Mai hoa thung, Lân hái lộc trên ngọn tre…
Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học học Việt Nam, hiện vật của người Hoa được giới thiệu trong không gian các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hán ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Vũ Thị Thanh Tâm