Người Kháng có dân số 16.180 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2019), thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me (ngữ hệ Nam Á), là một trong số các dân tộc cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc nước ta. Họ cư trú chủ yếu ở vùng núi giữa đến vùng cao thuộc các tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu. Nếp sống của họ chịu ảnh hưởng của văn hóa Thái song vẫn giữ được nhiều nét đặc trưng.
Kinh tế truyền thống của người Kháng là canh tác nương rẫy với sản phẩm chủ yếu là lúa nếp, ngô, sắn, vừng...; riêng nhóm sinh sống ở vùng thung lũng kết hợp với làm ruộng nước. Chăn nuôi lợn, gà, vịt, trâu, bò khá phát triển. Người Kháng giỏi đan lát đồ gia dụng (hòm, ghế mây, gùi...). Họ chế tác và sử dụng thuyền độc mộc, thuyền đuôi én để đánh cá và vận chuyển trên sông suối. Những năm gần đây, Nhà nước giao khoán đất rừng theo hộ hoặc nhóm hộ gia đình nên phát triển kinh tế rừng đang là một hướng đi mới của người Kháng.

Trước đây, các bản của người Kháng không có tổ chức xã hội riêng mà nằm trong sự quản lý của các mường Thái, tuân theo luật lệ của người Thái. Hình thái gia đình chủ yếu là tiểu gia đình phụ quyền; tổ chức dòng họ khá chặt chẽ, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các khía cạnh văn hóa, phong tục tập quán. Mỗi dòng họ có một tô tem riêng nên có những kiêng cữ nghiêm ngặt (không săn bắn, giết thịt…) với loại vật tổ của dòng họ mình. Ngày nay, xã hội người Kháng được vận hành theo hệ thống quản lý hành chính cơ sở chung của cả nước và có bộ máy tự quản là những người có uy tín, đại diện các dòng họ, trưởng bản.
Người Kháng ở nhà sàn với hai loại hình cơ bản: nhà tạm và nhà kiên cố. Nhà tạm có mái hình mai rùa, được dựng chủ yếu bằng luồng, nứa. Nhà kiên cố thường gồm 3-5 gian, hai chái, mái nhà dốc thẳng, chóp nhọn. Nhà có hai cửa to, mở ở hai vách đầu hồi, thông với cầu thang. Mỗi nhà có hai bếp lửa: một bếp để nấu ăn hàng ngày; bếp còn lại để sưởi, khi bố mẹ qua đời thì sử dụng để nấu đồ cúng. Hiện nay, nhiều hộ đã tách bếp ra khỏi nhà, nối với chái nhà phía trong, trước bếp là giàn phơi; mái nhà cũng sử dụng tấm lợp pro-xi măng.
Trang phục truyền thống của phụ nữ Kháng là áo dài đến đầu gối hoặc mắt cá nhân, quần đen hoặc chàm. Trong quá trình cộng cư với người Thái, trang phục thường ngày của phụ nữ Kháng đã hoàn toàn giống người Thái. Những năm gần đây, nam giới và thanh niên mặc hoàn toàn giống người Kinh. Phụ nữ vẫn mặc váy Thái nhưng áo cóm ở một số nơi đã được thay thế bằng áo sơ mi hoặc áo phông mua sẵn.
Trong hôn nhân, người Kháng có tục ở rể, được thực hành sau khi chàng trai hoàn tất các nghi thức của lễ cưới. Sau vài năm ở rể, nhà trai mới tổ chức đón dâu, đưa dâu về nhà chồng để gây dựng gia đình riêng. Người cậu có vai trò đặc biệt trong việc dựng vợ gả chồng cho cháu.
Người Kháng quan niệm mỗi người có năm hồn, hồn chính trên đầu và bốn hồn ở tứ chi. Khi chết, hồn chính biến thành ma lành phù hộ con cháu, bốn hồn còn lại biến thành ma dữ hay quấy nhiễu vòi “ăn”. Trong đám tang, họ thực hành tục chia của cho người chết bằng cách đặt phía trên đầu mộ chăn, đệm, dao, bát, đĩa, hòm đựng quần áo, ống nước, giỏ xôi... và những gì người quá cố thường dùng khi còn sống. Sau khi chôn xong, về đến nhà, người thân phải đứng dưới gầm sàn để ông cậu cắt một nhúm tóc bỏ vào bát nước lã đựng trứng, cá sấy khô rồi đem vứt ở vệ đường bãi tha ma để hồn người chết không về quấy rối con cháu, người thân. Việc cúng bố mẹ được người Kháng tiến hành ba năm một lần.
Ngoài ra, người ta còn tin vào nhiều loại ma khác như: ma suối, ma bản... và thực hiện các nghi lễ nông nghiệp (lễ tra hạt, lễ cơm mới…), rằm tháng 7 (lễ xíp xí), lễ cảm ơn thầy cúng (sơn pang ả), cúng thần rừng… Hiện nay, các nghi lễ có xu hướng đơn giản hóa trong thực hành hoặc đã mai một.
Người Kháng hiện nay vẫn còn giữ nhiều nét văn hóa nghệ thuật đặc sắc. Những làn điệu dân ca của người Kháng thường phản ánh đời sống sinh hoạt hàng ngày. Nhiều người biết hát các bài hát, áng thơ của người Thái, thuộc nhiều tục ngữ ca dao. Ngoài ra, các loại hình dân vũ của người Kháng cũng vô cùng phong phú như múa tăm đao, múa tăng bu, múa xòe…
Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Kháng được giới thiệu trong không gian trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me miền Bắc ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Vũ Thị Thanh Tâm
Ảnh: BTDTHVN