Dân tộc La Ha có 10.157 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2019), thuộc nhóm ngôn ngữ Kađai (ngữ hệ Thái - Kađai), cư trú lâu đời ở khu vực Tây Bắc nước ta. Họ có hai nhóm: Nước (La Ha Ủng) và Cạn (Khlá Phlạo), do quá trình cộng cư với người Thái Đen, cả hai nhóm đều chịu ảnh hưởng của văn hóa Thái về ngôn ngữ, trang phục, nhà cửa, phong tục tập quán… Họ sử dụng tiếng Thái rất thành thạo, thậm chí biết hát và làm thơ bằng tiếng Thái. Những điệu múa nổi tiếng “tăng bu”, “hưn mạy”, “sừng lừng” gắn với tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng trong nông nghiệp.
Sinh kế chính của người La Ha là canh tác nương rẫy (trồng lúa nếp, sắn, ngô và bông), kết hợp với làm ruộng nước. Chăn nuôi chủ yếu ở quy mô hộ gia đình: trâu, bò, lợn, dê, gà, vịt… Sống gần rừng nên săn bắt, hái lượm cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế của người La Ha. Các nghề thủ công như rèn, đan lát chỉ đáp ứng nhu cầu trong gia đình, làng bản. Trước đây, nghề dệt tương đối phát triển và kỹ thuật dệt của họ khá tinh xảo nhưng nay đã mai một nhiều. Hiện nay, giao thương mua bán vẫn nhỏ lẻ chủ yếu tại bản hoặc các chợ huyện.
Gia đình truyền thống của người La Ha là gia đình nhỏ phụ quyền. Trong gia đình, người chồng, người cha đóng vai trò chủ hộ và có quyền quyết định các công việc quan trọng. Quyền thừa kế tài sản trong gia đình thuộc về các con trai. Các con gái khi đi lấy chồng chỉ được bố mẹ cho một ít của hồi môn.
Tổ chức dòng họ của người La Ha trước đây không thật sự chặt chẽ bởi không có trưởng họ. Người chủ gia đình lớn hay một nhóm gia đình có quan hệ huyết thống có quyền quyết định việc liên quan đến nhóm hay chi họ đó như trưởng họ. Các dòng họ gốc như Quàng, Lò, Cà vẫn còn tín ngưỡng thờ cúng vật tổ cùng những kiêng kỵ nghiêm ngặt. Hiện nay, ở một số bản, người La Ha đã xây dựng mô hình dòng họ với một trưởng họ là người có uy tín và được tôn trọng trong họ và bản.
Người La Ha ở nhà sàn: loại nhà tạm có hai gian, hai chái, không có vách ngăn giữa gian bếp và gian ngủ, hai đầu hồi mái nhà lượn tròn hình bầu dục; nhà kiên cố có hai đầu hồi tròn khum hình mai rùa với bố trí mặt bằng sinh hoạt giống nhà của người Thái Đen. Trong nhà, phần để tiếp khách rộng từ 1/2 đến 2/3 diện tích nhà. Hiện nay, một số ngôi nhà đã có sự thay đổi về diện tích, kiểu cách, kết cấu và chủ yếu được làm bằng xi măng cốt thép nên được bố trí mặt bằng sinh hoạt khác với nhà truyền thống, nhất là những nhà sau tái định cư thủy điện Sơn La.
Quan hệ hôn nhân của người La Ha là ngoại hôn dòng họ và theo nguyên tắc thuận chiều (không có quan hệ hôn nhân ngược lại với thông gia). Trai gái được tự do tìm hiểu. Sau lễ cưới thứ nhất, chú rể phải ở rể bên nhà gái từ ba năm trở lên hoặc tùy theo thỏa thuận của hai bên. Hết hạn ở rể, người La Ha sẽ tổ chức lễ cưới chính thức (thu mà phu), chú rể đón dâu về ở hẳn nhà mình.
Người La Ha có tục địa táng: thi hài được khiêng ra đến mộ mới bỏ vào quan tài và hạ huyệt. Thi hài của bố được đưa qua cửa sau gian thờ, thi hài của mẹ được đưa qua cửa bếp. Chôn cất xong, người ta dựng trên mộ một ngôi nhà mồ và đặt trên đó những thứ được chia cho người chết: quần, áo, gùi, ghế, giỏ cơm, chăn, đệm… Tối đó, gia đình tổ chức lễ cúng tiễn biệt hồn người chết đến thế giới bên kia.
Người La Ha theo tín ngưỡng “vạn vật hữu linh” nên thờ cúng nhiều loại ma. Họ kiêng tự do đi lại hay chơi đùa ở nơi thờ cúng ma; con dâu, con rể không vào nơi ngủ của ông bà, bố mẹ, nơi thờ cúng, nhất là những ngày cúng lễ; kiêng không để quai nồi, chảo theo hướng của hai cửa ra vào vì đó là hướng đặt người chết trước khi đem chôn. Họ không khai thác những cây đã đổ, không săn bắn và thả gia súc... trong rừng ma.
Người La Ha chỉ thờ cúng tổ tiên tới hai đời. Khi bố mẹ chết, người con trai làm lễ đuổi ma bậc ông bà đi để bắt đầu thờ bố mẹ. Nơi thờ cúng là một tấm phên đan bằng tre, ngăn cách giữa nơi ngủ của chủ nhà và gian để đồ. Họ cũng thờ cúng bố mẹ vợ ở một ngôi nhà nhỏ dựng phía ngoài ngôi nhà.
Người La Ha có nghệ thuật diễn xướng dân gian khá phong phú với các điệu múa, trò chơi và trò diễn dân gian. Các điệu múa phổ biến trong các dịp lễ hội như: múa tăng bu (múa dỗ ống), múa khăn, múa lật… Trò chơi dân gian ném còn (khòn) đòi hỏi người chơi khéo léo, nhanh nhẹn được nhiều người yêu thích. Họ cũng có các trò diễn nhằm diễn tả lại các hoạt động mưu sinh hằng ngày như: chặt cây làm nhà, đi săn, hái lượn, đi cày, chữa bệnh…
Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người La Ha được giới thiệu trong không gian về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Kađai ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Vũ Thị Thanh Tâm
Ảnh: BTDTHVN