Dân tộc La Hủ thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến (ngữ hệ
Hán - Tạng). Với dân số 12.113 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2019),
đây là một trong những dân tộc rất ít người ở Việt Nam. Ngoài tên tự gọi La Hủ,
họ còn được gọi là Cò Sung, Khú Sung, Khả Quy, sinh sống tập trung tại các xã vùng cao biên giới Việt Nam và Trung Quốc tại các xã Bum Nưa, Bum Tở, xã Thu Lũm và Pa Ủm thuộc tỉnh
Lai Châu. Dân
tộc La Hủ có ba nhóm địa phương gồm: La Hủ Đen, La Hủ Vàng và La Hủ Trắng;
trong đó, La Hủ Vàng có đông dân nhất.
Người La Hủ cư trú ở những triền
núi cao và thường làm nhà trên các sườn núi. Mỗi bản chỉ có dăm nóc nhà, bản
đông cũng chỉ có vài chục nóc nhà. Gần đây, nhiều bản đã sáp nhập tạo thành những
bản đông đúc, thuận lợi cho sản xuất và phát triển kinh tế. Trước đây, người La
Hủ ở nhà lợp lá, đến khi lá úa vàng lại chuyển đi nơi khác nên họ còn có tên là
Xá Lá Vàng. Hiện nay, đa số người dân ở nhà đất, tường thưng phên nứa đan hoặc
ván giống nhà của người Hà Nhì hoặc ở nhà sàn có kết cấu gần giống nhà người Thái
với bếp, bàn thờ và giường ngủ của gia đình được bố trí trong cùng một gian.
Kinh tế truyền thống của người La Hủ là nương du canh và du cư. Cây trồng
chính là lúa, ngô, sắn; ngoài ra, còn có các loại rau đậu, bầu bí, khoai sọ…
Hái lượm và săn bắn từng giữ một vị trí quan trọng trong đời sống hàng ngày. Hiện
nay, đời sống kinh tế của đồng bào đang chuyển dịch mạnh mẽ từ du canh, du cư
sang định canh, định cư, phát triển ruộng bậc thang, canh tác lúa nước, chăn
nuôi và khoán bảo vệ rừng.
Người La Hủ có hôn nhân một vợ một
chồng bền vững, trai gái được tự do tìm hiểu trước hôn nhân và không bị đóng
kín trong nội bộ tộc người. Gia đình gồm
gia đình hạt nhân và gia đình mở rộng; trong đó, tỷ lệ các gia đình hạt nhân -
gia đình nhỏ, phụ quyền gồm cha mẹ và các con - chiếm đa số. Gia đình mở rộng
ít hơn do con có gia đình riêng thường tách hộ, ít ở cùng cha mẹ.
Phong tục cưới xin của người La Hủ
phải trải qua nhiều bước như: lễ hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt. Sau lễ cưới, cô dâu
cư trú bên nhà chồng nhưng tục ở rể đến nay vẫn còn tồn tại. Theo truyền thống,
sau khi con trai lấy vợ và có con, gia đình của con trai sẽ được bố mẹ dựng cho
một ngôi nhà mới và chia một ít tài sản, ruộng đất, thóc lúa để ra ở riêng và bắt
đầu cuộc sống tự lập.
Người La Hủ tin mọi vật đều có
linh hồn; vì thế, họ thường nhờ thầy cúng làm lễ gọi hồn khi ốm đau. Họ cũng quan
niệm tổ tiên là bố mẹ và ông bà đã khuất nên chỉ thờ cúng tổ tiên (ma nhà) một
đời. Bàn thờ tổ tiên được đặt ở lưng chừng vách hậu trong buồng ngủ của vợ chồng
gia chủ. Việc thờ cúng là nhiệm vụ của con trai cả. Nếu người này chết, bàn thờ
tổ tiên chuyển cho con trai thứ và tiếp tục được duy trì đến con trai út.
Trước kia, khi có người chết, người
ta bắn súng để đuổi ma và báo cho họ hàng, làng xóm biết. Con cháu của người chết
buộc sợi chỉ trắng vào tay người chết, kéo sợi chỉ ra khỏi cửa, buộc vào chân
con gà, con lợn sẽ thịt để làm lễ. Nghi thức này ngụ ý để người chết mang theo
tài sản sang thế giới bên kia. Trong quá khứ, tang lễ thường kéo dài vài ba
ngày. Quan tài thường là một khúc gỗ bổ đôi, khoét rỗng cả hai nửa. Ngày và giờ
hạ huyệt được lựa chọn cẩn thận. Thời gian để tang của con cái đối với cha mẹ
là ba năm. Trước đây, khi trong nhà người La Hủ có người chết, gia đình đó sẽ
chuyển nhà hoặc dỡ nhà đi nơi khác ở. Ngày nay, gia đình có người chết chỉ dỡ bỏ
buồng của người chết.
Đi qua suối (Bum Tở, Lai Châu, 2000)
Trang phục của phụ nữ La Hủ được chế tác khá cầu kỳ. Phụ nữ mặc áo dài tay, cổ tròn, thân, nách và tay áo có thêu hoa văn hoặc nẹp vải. Quần dài kiểu chân què, nối đũng. Khăn đội đầu có những chi tiết trang trí rất sặc sỡ như vòng chụp đầu, dây cuốn tóc, dây tua len đội đầu. Trang phục nam đơn giản hơn, gồm có khăn, áo và quần, đều được nhuộm chàm. Tuy nhiên, hiện nay nam thanh niên La Hủ hầu như không mặc trang phục truyền thống thường ngày, trừ nữ giới (chủ yếu là người lớn tuổi). Phụ nữ trung niên chỉ mặc trang phục truyền thống vào những dịp lễ tết, hội hè.
Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, trưng bày về văn hóa người La Hủ được giới thiệu tại khu trưng bày các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến ở tầng 2 của tòa Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng 3 ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Vũ Hồng Nhi
Ảnh: Bảo tàng DTHVN