image banner
Người Lự

NHÀ CỦA NGƯỜI LỰ (Tam Đường, Lai Châu, 2004)THỔI KHÈN (Phong Thổ, Lai Châu)MÚA XÒE LỰ (Phong Thổ, Lai Châu)

Người Lự có tên tự gọi là Lừ, Thay hoặc Thay Lừ. Ngoài ra, họ còn có các tên gọi khác như Phù Lừ, Nhuồn, Duồn. Người Lự đã có mặt ở khu vực Xam Mứn (Ðiện Biên) khoảng thế kỷ XI - XII, tại đây họ đã xây thành Xam Mứn (Tam Vạn) và khai khẩn nhiều ruộng đồng. Vào thời kỳ chiến tranh, người Lự phân tán khắp nơi, một bộ phận nhỏ chạy lên sinh sống ở vùng núi Phong Thổ, Sìn Hồ. Ngày nay, người Lự cư trú chủ yếu tại các xã Bản Hon, Bình Lư, Nà Tăm của huyện Tam Đường (thuộc huyện Phong Thổ cũ), các xã Ma Quai, Nậm Tăm của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và một số ít sống rải rác, xen kẽ với người Thái ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Theo số liệu điều tra dân số năm 2019, người Lự có 6.757 người (gồm 3.439 nam và 3.318 nữ). Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Kađai).

Người Lự là cư dân thành thạo canh tác lúa nước, dùng sức kéo trâu, bò để cày bừa, làm đất; sử dụng phân xanh, phân chuồng để bón lúa; tạo lập một hệ thống mương tưới tiêu nước hoàn chỉnh. Đặc biệt, họ có tập quán đào mương xung quanh các thửa ruộng, vừa để ngăn trâu bò phá hoại lúa, vừa lấy đất đắp bờ cao để giữ nước. Ngày nay, nhờ sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật mới và máy móc nên năng suất tăng hơn nhiều so với trước; nhờ đó, đời sống của đồng bào cũng được nâng lên rõ rệt. Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi là một lợi thế của người Lự. Đây là hoạt động kinh tế quan trọng trong việc cung cấp sức kéo, thịt… Khai thác các nguồn lợi tự nhiên là tập quán sinh kế từ lâu đời trong đời sống của người Lự. Trước đây, họ thường đi săn theo hình thức cá nhân hoặc tập thể nhưng từ khi có quy định cấm săn bắn ở các khu rừng thì hình thức đi săn tập thể không còn tồn tại. Hái lượm và đặc biệt là đánh cá ở suối là hoạt động thường xuyên vẫn được duy trì cho đến ngày nay.

 

SẢY ĐỖ (Tam Đường, Lai Châu, 2004)CÁN BÔNG (Tam Đường, Lai Châu, 2004)DỆT VẢI (Tam Đường, Lai Châu, 1996)Phơi vải đã nhuộm (Tam Đường, Lai Châu, 2004)

 

Người Lự nổi tiếng khéo tay trong dệt vải và làm đồ trang sức. Đặc biệt, nghề đan khá phổ biến. Họ đan những đồ dùng sinh hoạt gia đình như rổ, rá, giỏ đựng rau,... Những sản phẩm này chủ yếu đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp, chỉ một số ít gia đình sử dụng những sản phẩm này làm hàng hóa để trao đổi ngoài cộng đồng.

Trong xã hội truyền thống, mỗi bản có một người đứng đầu gọi là Tạo bản (trưởng bản) do dân bầu; giúp việc cho trưởng bản, có từ một đến hai phó trưởng bản. Đến nay, việc quản lý các bản được vận hành theo cơ chế hành chính của Nhà nước. Bên cạnh trưởng bản và phó trưởng bản, còn có các tổ chức đoàn thể như Chi hội Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Chi hội Hội Cựu chiến binh… cùng phối hợp để điều hành, quản lý bản.

Người Lự quan niệm vũ trụ có ba tầng: Mường Phạ (mường trời) - tầng cao nhất của thế giới các vị Then, nơi trú ngụ của tổ tiên các dòng họ (đẳm pang); Mường Piêng - tầng mặt đất, thế giới của con người và muôn vật; Mường Lúm (tầng dưới cùng) - thế giới của người lùn nằm sâu trong lòng đất. Mường trời hình tròn úp lên mặt đất, do Then lớn (then luông) chỉ huy các then đúc, then làm mưa, then ánh sáng, then xử tội... cai quản. Ngày nay, tín ngưỡng dân gian của người Lự vẫn được duy trì. Người Lự tin rằng, các cơ thể sống đều có hồn, khi chết biến thành ma (phi). Họ quan niệm có ma lành và ma ác. Ma lành là ma tổ tiên, ma bản làng thường phù hộ con cháu mạnh khỏe, mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển; chính vì vậy, việc cúng tổ tiên được quan tâm nhất. Ma ác là loại ma của những người chết bất đắc kỳ tử, không ai thờ cúng, hay quấy nhiễu vòi ăn hoặc ma sông, ma suối, ma rừng…

Đến nay, tập quán ăn uống và những món ăn truyền thống vẫn còn giữ được những nét cơ bản trong đời sống gia đình và cộng đồng người Lự. Gạo, ngô, khoai, sắn, dong riềng, rau, đậu và một số lâm sản, thịt gia súc, gia cầm, thủy sản... là nguồn nguyên liệu chính trong chế biến các món ăn của người Lự. Các món ăn được chế biến chủ yếu bằng cách đồ, nấu, luộc... Trong một số dịp cưới xin, lễ hội, đồng bào đã chế biến một số món theo kiểu người dưới xuôi như rán, hầm, nướng và các món nộm…

 

  

PHỤ NỮ LỰ TRONG TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG (Lai Châu)TRẺ EM LỰ (Phong Thổ, Lai Châu)

 

Cho đến nay, phụ nữ Lự vẫn duy trì mặc bộ trang phục truyền thống được dệt may thủ công, trang trí hoa văn tinh xảo. Trước đây, từ khâu trồng bông, cán bông, xe sợi đến khi thành hình bộ trang phục đều do người phụ nữ đảm nhiệm, nhưng hiện nay người Lự chủ yếu mua vải thô ở chợ để cắt may, riêng hoa văn ở chân váy thì vẫn được người phụ nữ tự dệt. Bộ nữ phục Lự gồm: khăn, áo, váy, thắt lưng và các đồ trang sức đi kèm như hoa tai, vòng cổ, vòng tay, xà tích, túi… Áo được may bằng vải chàm, theo kiểu áo tứ thân, ghép liên kết với nhau từ 6 miếng vải cắt theo hình rẻ quạt, tạo cho áo có vạt xòe rộng so với eo. Tay áo và thân áo đều được đắp bằng những đường hoa văn nhỏ cầu kỳ từ vải hoa hoặc thổ cẩm tạo sự rực rỡ, nổi bật trên nền trang phục màu chàm. Ðầu đội khăn quấn tạo thành gù nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường gấp viền thêu hoa văn bổ dọc. Đối với các cô gái trẻ chưa có chồng, trong những dịp lễ, tết, hội hè, cưới xin, họ còn nối thêm vào đầu khăn một dải kim loại màu trắng và gắn thêm nhiều tua bông vắt theo dải khăn phía sau đầu. Phụ nữ Lự mặc loại váy ống, bằng vải nhuộm chàm. Váy được trang trí hoa văn thành các dải từ thân váy đến cạp váy; đặc biệt, thân váy hoa văn được tạo bởi dệt thổ cẩm và ghép vải nhiều màu sắc sặc sỡ.

Trong số các dân tộc thiểu số, hiện nay phụ nữ Lự là một trong số ít dân tộc còn duy trì tục nhuộm răng đen. Bé gái khoảng 13-14 tuổi đã nhuộm răng đen. Tối nào cũng vậy, sau bữa cơm, phụ nữ Lự ngồi bên bếp lửa nhuộm răng. Để nhuộm răng đen, họ lên rừng chặt cây mạy tửu rồi đem về phơi khô. Lúc nhuộm, họ đốt cây mạy tửu để lấy một lớp nhựa đen, sau đó dùng tay quệt lớp nhựa ấy thoa lên răng; mỗi lần nhuộm thường mất khoảng 1 tiếng. Ngày nay, tục lệ này vẫn được duy trì nhưng không phổ biến như trước.

Nam mặc quần áo bằng vải chàm. Áo cánh kiểu xẻ ngực, cài cúc tết dây vải, có hai túi ở hai vạt áo và một túi ở ngực trái. Quần từ đầu gối trở xuống có thêu hoa văn. Họ đội khăn đen, gấp nếp cuốn nhiều vòng, thích nhuộm răng đen. Trước đây, đàn ông thường đeo gươm vừa để tự vệ vừa trang trí; ngày nay, họ đã bỏ thói quen này. Trang phục của các bé gái Lự cũng cầu kỳ như của người lớn, chỉ khác là các bé không quấn khăn đội đầu.

Người Lự có truyền thống ở nhà sàn (hương) giống các dân tộc trong nhóm Tày - Thái. Nhà của họ có hai mái, lợp cỏ gianh, mái phía sau và phía trước kéo dài xuống che kín hàng hiên sàn, đồng thời che cầu thang. Khác với người Thái và người Lào, nhà của người Lự có một cửa ra vào, luôn hướng về phía tây bắc và một cửa ra sân phơi.

Văn nghệ dân gian của người Lự khá phong phú. Hát khắp là cách con gái dùng một khăn vải màu đỏ che mặt, hát theo tiếng sáo đôi do con trai thổi đệm. Thường vào buổi tối, các đôi nam nữ ngồi trên chiếu cói được trải giữa sân say sưa hát, thổi sáo cùng nhau đến tận nửa đêm.

Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Lự được giới thiệu trong không gian các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).

Người viết: Võ Thị Mai Phương

Ảnh: BTDTHVN

 

 

Tin cùng chuyên mục
Đến với bảo tàng
  • Đang online: 1
  • Tất cả: 1