Dân tộc Mảng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ-me (ngữ hệ Nam
Á) ở Việt Nam, có dân số hơn 4.650 người (năm 2019), cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai
Châu. Họ có tên gọi khác là Mảng Ư, Xá
Mảng, Niếng O, Xá Bá O và có các nhóm địa phương là Mảng Gừng, Mảng Hệ. Người Mảng
là cư dân bản địa ở Việt Nam. Theo khảo sát của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai
Châu, người Mảng bảo tồn tiếng nói khá tốt, 100% người dân sử dụng tiếng nói
của dân tộc mình trong sinh hoạt hàng ngày. Khi giao tiếp với bên ngoài, một số
người có thể sử dụng tiếng phổ thông, tiếng Thái, tiếng Hà Nhì và tiếng Hmông.
Canh tác nương rẫy là hoạt động chủ yếu mang lại
nguồn lương thực chính của người Mảng. Bên cạnh đó, canh tác ruộng nước cũng
đóng vai trò nhất định do người Mảng học kỹ thuật này từ người Thái sau năm
1954, đặc biệt phát triển mạnh vào thời kỳ hợp tác hóa. Việc chuyển đổi từ cây
lương thực sang trồng cây cao su trên địa bàn người Mảng bắt đầu từ năm 2010.
Người Mảng nuôi trâu, bò, dê, gà, lợn. Nghề đan lát đặc biệt phát triển, đạt đến trình độ tinh
xảo, trong khi nghề dệt không phát triển. Nhiều sản phẩm đan lát của người Mảng như bem, cót,
gùi rất được các dân tộc khác ưa chuộng. Các sản phẩm đan lát chủ yếu đem trao đổi với người Thái
để lấy các sản phẩm may mặc. Ngoài ra, nghề khâu nón cũng rất phát triển, dùng
để trao đổi hoặc bán cho người Thái.
Người Mảng ăn hai bữa (trưa và tối) mỗi ngày. Ngô là
lương thực chính, ngô trộn sắn hoặc trộn với ít gạo đồ lên. Lá sắn non đồ trộn
muối là thức ăn gần như quanh năm của người Mảng. Họ ưa hút thuốc lào, uống
rượu trắng.
Y phục truyền thống vẫn được gìn giữ mặc dù nhiều
người mặc giống người Thái hoặc Việt. Nét độc đáo trong y phục phụ nữ Mảng là
tấm choàng quấn quanh thân được cắt may bằng vải thô màu trắng, ở giữa thêu
bằng chỉ đỏ. Đầu để trần, tóc buộc thành chỏm trên đầu bằng dây có tua khá đẹp,
chân quấn xà cạp.
Trước kia,
cả phụ nữ và đàn ông Mảng đều phải xăm mặt (còn gọi là xăm mồm hay xăm cằm).
Đây là nghi lễ thành đinh bắt buộc khi con trai, con gái đến tuổi trưởng thành
(con trai từ 16 - 18 tuổi, con gái từ 15 - 16 tuổi), với mục đích chính là được
cộng đồng công nhận là thành viên chính thức. Nhờ có hình xăm trên mặt mà sau
khi chết đi, tổ tiên ở trên trời mới nhận ra là người trong cùng dòng họ và mới
cho hồn trú ngụ cùng.
Người Mảng ở nhà sàn được làm
bằng gỗ, nứa, lá có sẵn trong tự nhiên, kỹ thuật dựng nhà đơn giản, chủ yếu là
buộc, khắc, ngoẵm, chưa có kỹ thuật đục, ghép mộng. Mặc dù
nhà người Mảng rất tạm bợ, nhưng từ khâu chọn đất, san nền, dựng cột cho đến
lợp đều phải nhờ thầy bói xem ngày, giờ rồi mới tiến hành dựng nhà. Lễ này gồm
nhiều nghi lễ phức tạp thể hiện đặc trưng tộc người.
Trong đời sống hôn nhân, trai gái người Mảng
được tự do yêu đương và kết hôn. Nhà trai chủ động hỏi cưới vợ cho con. Lúc đưa
dâu có tục đánh nhau giả giữa họ nhà trai và nhà gái để giành cô dâu, thể hiện
sự lưu luyến của nhà gái với cô dâu trước khi về nhà chồng. Người Mảng có tục ở
rể và lễ vật dẫn cưới có cá sấy khô.
Người đứng đầu tổ chức xã hội truyền thống là Pogia. Ông ta cùng Hội đồng các trưởng
họ điều khiển mọi hoạt động văn hóa tôn giáo, xã hội trong bản. Về sau tổ chức
xã hội này bị phá vỡ, chịu sự chi phối của tổ chức xã hội Thái. Tuy nhiên, tổ
chức Bản (Muy) vẫn được duy trì theo tập quán truyền thống. Bản có trưởng bản
trông coi về thu thuế tạp dịch. Trong bản thường có một dòng họ lớn, các trưởng
họ điều hành mọi hoạt động xã hội, tôn giáo theo tập quán. Người Mảng có năm họ
chính, mỗi họ lấy một con vật làm vật tổ.
Ngoài Tết Nguyên đán, người Mảng ăn Tết Cơm mới sau
vụ gặt tháng 10 âm lịch. Hàng năm, dân bản còn cúng ma bản và ma nhà để cầu
yên. Đặc biệt, ở họ tồn tại hàng loạt nghi lễ liên quan đến nông nghiệp: lễ
gieo nương; cúng hồn lúa, mẹ lúa; cúng sau vụ thu hoạch… Các lễ nghi nông nghiệp tập trung nhất là thờ cúng hồn
lúa vào dịp thu hoạch mùa vụ hàng năm. Mùa gieo hạt và mùa gặt hái, cộng đồng
Mảng chung vui trò chơi, hát, đối đáp nam nữ kéo dài suốt ngày đêm không dứt
cuộc. Các nhạc cụ chiêng, đàn một dây, sáo, khèn cũng được nam nữ người Mảng
biểu diễn phản ánh những nét văn hóa tinh túy trong các lễ hội cộng đồng. Làn điệu dân ca “oxoỏng” được
nhiều người biết và ưa thích. Các truyện dã sử, truyện kể về lịch sử dân tộc
thường được người già kể say sưa. Vào các dịp lễ, tết, trẻ em chơi cầu lông,
đánh quay. Thanh niên có nơi chơi ném còn.
Tại khu trưng bày thường xuyên của
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của dân tộc Mảng được giới thiệu trong
trưng bày về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ-me ở tầng 2 của tòa Trống
đồng. Các thông tin về hiện vật và bài viết đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ:
Việt, Pháp và Anh.