Người Mường có tên tự gọi là Mol (hoặc Mon, Moan, Mual), gồm các nhóm địa phương: Ao Tá (Âu Tá), Mọi Bi. Họ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á), có dân số 1.452.095 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2019). Người Mường cư trú chủ yếu ở tỉnh Hoà Bình, trong bốn mường xưa nổi tiếng: Bi, Vang, Thàng, Động; một số sinh sống ở các tỉnh Thanh Hoá, Phú Thọ, Sơn La…
Người Mường làm ruộng nước trong các thung lũng với trình độ canh tác khá cao. Trước đây, họ còn săn bắn, đánh cá, hái lượm; chăn nuôi gia súc, gia cầm ở quy mô nhỏ lẻ; thủ công nghiệp khá phát triển với các nghề như: dệt vải, đan lát... Hiện nay, người Mường đã mở rộng sang trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, rau màu và chăn nuôi gia súc, gia cầm để đáp ứng nhu cầu kinh tế thị trường. Họ còn tham gia hoạt động kinh tế thương mại, dịch vụ và du lịch sinh thái, tận dụng các giá trị văn hóa để phát triển kinh tế.
Chế độ Nhà lang theo hình thức thế tập là tổ chức xã hội truyền thống trước đây của người Mường. Mỗi dòng họ lãnh chúa (Đinh, Quách, Bạch, Hoàng, Hà...) đều có lệ luật riêng để chi phối các bản trong mường thuộc phạm vi quản lý của mình. Hiện nay, hệ thống chính quyền được thiết lập theo hệ thống chính trị cấp cơ sở thống nhất trong cả nước, kết hợp với việc duy trì những giá trị truyền thống. Các quan hệ cộng đồng, dòng họ vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Mường, đặc biệt trong các nghi lễ, lễ hội hay các hoạt động văn hóa cộng đồng.
Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối... Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái, cột đặt theo chiều dọc bốn hàng chân và hai bên có hai chái với hai cầu thang. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác. Ngày nay, ở nhiều vùng người Mường đã xuất hiện những ngôi nhà mái ngói, nhà mái bằng, nhà cao tầng. Một số nhà sàn truyền thống cũng được cải tiến theo hướng mới, chuyển sang sử dụng nguyên vật liệu xi măng, cốt thép, ngói…
Các dòng họ của người Mường thường sinh sống tập trung thành từng làng. Mỗi dòng họ có người đứng đầu đảm nhận việc cúng tế tổ tiên và điều hành các hoạt động cộng đồng. Quan hệ dòng họ chi phối mạnh mẽ đến các nghi lễ, tập quán cưới hỏi, ma chay và các hoạt động đoàn kết trong cộng đồng.
Trong hôn nhân, thanh niên Mường tự quyết định hôn nhân của mình, các bậc cha mẹ tôn trọng tình yêu của con cái, ít can thiệp; đồng thời con cái cũng lắng nghe ý kiến cha mẹ. Theo phong tục, việc cưới hỏi phải trải qua nhiều lễ nghi như dạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới và lễ lại mặt. Nhiều nghi thức đã giản lược hoặc có những thay đổi nhất định nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của nghi lễ cưới hỏi truyền thống.
Nghi lễ tang ma của người Mường mang đậm yếu tố tâm linh, thể hiện quan niệm về vòng luân hồi của con người. Tang lễ do thầy mo chủ trì, tiến hành theo nhiều bước: lễ nhập quan, phát tang, đưa tang và an táng. Người chết được liệm vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng và quàn bên dưới giàn y phục do họ hàng dâng cho người mất. Con dâu, cháu dâu chịu tang cha mẹ, ông bà mặc bộ tang phục riêng gọi là bộ quạt ma. Trong đám tang, người Mường thường có các bài khấn gọi hồn, hát “Mo Mường” để tiễn đưa linh hồn người đã khuất về với tổ tiên.
Trước đây, gạo nếp là món chính trong bữa ăn hằng ngày của người Mường nhưng hiện nay gạo tẻ đã trở thành nguồn lương thực chính còn gạo nếp thường chỉ được dùng trong các dịp lễ tết, tiếp khách. Cách thức chế biến thức ăn phổ biến của người Mường là đồ chín, nướng, lam, ủ chua... Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể. Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to.
Người Mường có kho tàng văn học dân gian phong phú với những sử thi, truyện thơ nổi tiếng như Đẻ đất đẻ nước, Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Nga - Hai Mối..., có các làn điệu hát ví, xéc bùa hay sắc bùa và những điệu dân vũ đặc sắc như múa bông, múa quạt, múa sạp. Nhạc cụ của người Mường khá phong phú gồm: sáo, tiêu, kèn, nhị, chuông, trống đồng, trống mặt da và cồng; ngoài ra, còn có tập quán tạo âm thanh bằng máng gỗ vò lúa (đánh đuống) hay những đoạn tre (gõ sạp). Nhạc cụ thường dùng đơn tấu, đệm cho hát và múa. Có ba hình thức tổ chức dàn nhạc: dàn nhị - sáo, gồm có sáo, tiêu, nhị và kèn, dùng trong lễ tết và các dịp vui; đàn nhị - sáo - trống đồng, gồm sáo, tiêu, nhị, kèn, 3 cồng và 1 trống đồng, chỉ dùng trong tang lễ; dàn cồng sắc bùa gồm 12 chiếc, do 12 cô gái gõ trong sinh hoạt sắc bùa vào mùa xuân.
Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học học Việt Nam, hiện vật của người Mường được giới thiệu trong không gian các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường ở tầng 1 của tòa nhà Trống đồng; trong đó có khu tái tạo về đám ma Mường. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Vũ Thị Thanh Tâm
Ảnh: BTDTHVN