Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra dân số năm 2019, cộng đồng người Ngái chỉ có 1.649 nhân khẩu, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây gợi mở một con số thực tế có thể lên đến hàng chục nghìn người. Họ phân bố rộng khắp từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Giang, Quảng Ninh đến các tỉnh duyên hải và Tây Nguyên như Bình Thuận, Đồng Nai, Đắk Lắk, và cả trung tâm kinh tế lớn như Thành phố Hồ Chí Minh. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán.


Trước đây, người Ngái chủ yếu canh tác lúa nước kết hợp với trồng các loại cây hoa màu và chăn nuôi gia súc, gia cầm, tạo nên một nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp. Gần đây, họ tăng cường chăn nuôi và trồng thêm một số cây trồng có tính thương mại cao như các loại hoa hay cây chè ở Tân Cương phục vụ nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, những nghề thủ công truyền thống như làm mành trúc, dệt chiếu, nghề mộc, rèn và làm gạch ngói không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt mà còn dùng để trao đổi hàng hóa. Người Ngái ở nhiều nơi đã sớm tổ chức những chuyến buôn bán đường dài với các sản phẩm như mật ong, đường phên, mật mía, thuốc Nam… Đặc biệt, sự phát triển vượt bậc của nghề làm giày dép tại Thành phố Hồ Chí Minh đã khẳng định sự năng động và khả năng hội nhập kinh tế của người Ngái trong bối cảnh đô thị hóa. Những doanh nghiệp do người Ngái thành lập đã có những đóng góp đáng kể vào ngành công nghiệp giày dép và cao su của cả nước.
Người Ngái thường có xu hướng cư trú thành những cộng đồng nhỏ, xen kẽ với các dân tộc khác. Kiến trúc nhà ở truyền thống của họ thường là nhà đất theo kiểu trình tường 3 gian 2 chái, mái lợp ngói máng (ngói âm dương) tự sản xuất. Trước năm 1979, ở vùng Đầm Hà - Hà Cối, tỉnh Quảng Ninh, nhiều ngôi nhà đất thiết kế theo kiểu chữ khẩu (làm kín bốn mặt, có sân ở giữa và các ô cửa nhỏ trên cao) vẫn còn phổ biến. Đây là lối kiến trúc phòng thủ, có thể là dấu ấn sót lại của những cuộc xung đột trong lịch sử. Hiện nay, người Ngái ở trong những ngôi nhà cấp bốn, mái bằng hoặc nhà tầng kiên cố xây tường bao quanh. Dù là kiến trúc truyền thống hay hiện đại, người Ngái đều coi nhà không chỉ là nơi cư ngụ dành cho người sống mà cho cả linh hồn tổ tiên và các vị thần linh bảo hộ. Vào dịp năm mới, trên cửa ra vào và đồ vật trong nhà đều dán giấy đỏ viết chữ ngụ ý cầu mong an khang, thịnh vượng cho gia đình.
Gia đình người Ngái là gia đình nhỏ phụ quyền. Người chồng quyết định mọi việc lớn; con trai được coi trọng, con gái không được chia tài sản. Trong quá khứ, các cặp hôn nhân nội tộc người được đề cao, nhưng ngày nay hôn nhân khác tộc đang trở thành hiện tượng phổ biến do tiếp xúc xã hội và quan niệm cởi mở của giới trẻ. Trong phạm vi dòng họ, trưởng tộc có vị thế quan trọng, là người duy trì trật tự và các giá trị truyền thống. Hệ thống tên đệm trong dòng họ là một phương thức độc đáo để nhận diện các thành viên và phân biệt các chi nhánh. Ông cậu (khảo) có vai trò quan trọng như cha của các con gái, là người đặt tên cho các cháu ngoại trong gia đình.
Y phục truyền thống của người Ngái thường không có trang trí. Nam giới mặc quần kiểu lá tọa, áo có 2 hoặc 3 túi. Phụ nữ mặc áo 5 thân dài quá mông, cài khuy vải bên nách phải.
Theo tập tục, sau khi sinh con 60 ngày (con đầu) hay 40 ngày (con thứ), sản phụ mới được về nhà mẹ đẻ. Đối với người chết, sau khi mai táng, tang gia làm lễ cúng vào các dịp 21 ngày, 35 ngày, 42 ngày, 49 ngày, 63 ngày, 70 ngày, được 3 năm thì làm lễ đoạn tang. Khác với người Hán chỉ làm tang lễ và chôn cất một lần, người Ngái có tục cải táng như người Việt, nhưng hài cốt được đựng trong bình gốm hình chum thay vì tiểu sành.
Người Ngái có nhiều lễ tết: Nguyên đán (Tết Năm mới), Hàn thực (3/3), Ðoan ngọ (5/5), Vu lan (15/7), cơm mới (10/10). Những dịp lễ này không chỉ là thời điểm để tưởng nhớ tổ tiên, cầu mong những điều tốt lành mà còn là cơ hội để cộng đồng gắn kết và trao truyền các giá trị văn hóa.
Di sản văn nghệ dân gian của người Ngái rất đặc sắc với các làn điệu dân ca trữ tình, những điệu múa uyển chuyển và kho tàng văn học truyền miệng phong phú. Lối hát giao duyên giữa nam và nữ (sường cô) từng là một hình thức sinh hoạt văn hóa phổ biến. Cùng với đó, các hình thức biểu diễn nghệ thuật như múa sư tử, múa gậy và các trò chơi dân gian truyền thống góp phần làm phong phú đời sống văn hóa cộng đồng.
Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người Ngái được giới thiệu tại khu trưng bày nhóm ngôn ngữ Hán, tầng 2, tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng 3 ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Nguyễn Thị Thùy Dương
Ảnh: BTDTHVN