Người
Pà Thẻn ở Việt Nam có dân số 8.248 người (năm 2019), có tên tự gọi là Pà Hưng và tên gọi khác là Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo
Đỏ, Bát Tiên tộc...
Theo truyền thuyết,
người Pà Thẻn từ Trung Quốc di cư đến Việt Nam cách đây khoảng 200 - 300 năm.
Hiện nay,
họ cư trú chủ yếu tại tỉnh Tuyên Quang.
Trước
kia,
người Pà Thẻn chủ yếu sống bằng nương rẫy; phương
thức canh tác là phát cây,
đốt rồi chọc lỗ, tra hạt. Cây trồng gồm lúa, ngô và các loại rau, đậu, khoai sọ,
khoai môn. Công cụ sản xuất là rìu, cuốc, dao. Do sản xuất phụ thuộc vào thiên
nhiên, nhất là những lúc mất mùa, giáp hạt, người Pà Thẻn vẫn phải lên rừng đào
củ mài, củ nâu… Vì thế,
hái lượm cũng đóng
vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế. Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi,
khi có chính sách kêu gọi định canh định cư đối với các dân tộc ở vùng cao, người
Pà Thẻn đã xuống định canh ở vùng thấp. Hoạt động kinh tế lúc này đã có sự chuyển
đổi: đồng
bào làm ruộng nước và ruộng bậc thang; chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như:
trâu, bò, dê, lợn, gà. Ngoài phục vụ nhu cầu sức kéo, chăn nuôi còn nhằm thỏa
mãn tiêu dùng và lễ nghi tôn giáo. Thủ công nghiệp gia đình tương đối
phát triển với các nghề làm đồ gỗ gia dụng, đan lát, rèn và chạm khắc bạc, trồng
bông dệt vải. Nghề dệt của họ có từ lâu đời, sản phẩm dệt được nhiều dân tộc
xung quanh ưa thích. Người Pà Thẻn chủ yếu ăn cơm tẻ, ngày hai bữa chính, thích
các món luộc hay xào. Rượu là thứ đồ uống không thể thiếu mỗi khi gia đình có
khách khứa đến thăm, gặp gỡ bạn bè hoặc khi gia đình có việc như đám cưới, làm
nhà mới, đám ma… Ngoài ra, người Pà Thẻn còn uống chè được nấu từ các loại lá
thảo mộc tự nhiên, hút thuốc lào và ăn trầu (chỉ ăn lá trầu và vỏ đỏ, không ăn
cùng với cau và vôi).
Xuất phát từ quan niệm coi màu đỏ là màu của lửa, của ánh
sáng, đại diện cho thần lửa linh thiêng nên phụ nữ Pà Thẻn chọn sắc đỏ là màu
chủ đạo trên trang phục. Nữ phục Pà Thẻn
gồm: áo, váy, khăn trong, khăn ngoài, xà cạp với nhiều đồ án hoa văn theo các
mô típ chữ “vạn”, ô trám, con chó được dệt hoặc thêu rất công phu. Y phục và
trang sức của cô dâu, chú rể trong ngày cưới là đặc sắc nhất trong số các đồ mặc
của người Pà Thẻn. Hiện nay việc trồng bông, dệt vải của đồng bào ở nhiều nơi
không còn được duy trì, đồng bào mua vải mộc bán ở chợ về nhuộm, rồi tạo nên trang
phục. Dù không còn duy trì phổ biến hàng ngày bộ trang phục truyền thống nhưng
người nào cũng dành ít nhất một bộ quần áo truyền thống để mặc khi qua đời vì
quan niệm mặc đẹp về với tổ tiên.
Gia đình của người Pà Thẻn là gia đình nhỏ phụ quyền, một
vợ một chồng bền vững. Việc lấy nhau giữa những người cùng họ bị cấm nghiêm ngặt.
Rất hiếm các trường hợp người chồng lấy vợ hai, vợ chồng ít khi ly dị. Người Pà
Thẻn có tập quán ở rể đối với những gia đình không có con trai. Có hai hình thức
ở rể: ở rể tạm thời (tối đa 12 năm) và ở rể cả đời (sang ở hẳn bên nhà vợ, con
mang họ mẹ).
Trong xã hội của người Pà Thẻn, quan hệ xóm giềng có vai
trò quan trọng để duy trì sự hòa thuận trong cộng đồng. Tập quán đổi công vào
thời vụ hay những lúc công việc cần nhiều lao động vẫn được duy trì đến nay.
Người Pà Thẻn có 8 họ gốc và một số họ khác của người Dao (Bàn, Triệu). Trong một
bản của người Pà Thẻn có nhiều dòng họ cùng cư trú, trong đó thường có một dòng
họ lớn nhất. Mỗi họ chia ra nhiều chi họ gắn với truyền thuyết riêng.
Tùy từng nơi, người Pà Thẻn ở nhà sàn, nhà nền đất hay nửa
sàn nửa nền đất. Nguyên liệu làm nhà truyền thống là gỗ, tre, nứa, cỏ
gianh. Hiện nay do nguyên liệu tự nhiên ngày càng khan hiếm nên một số gia đình
đã chuyển sang lợp mái ngói, mái tôn, xây tường gạch. Nhà thường được chia làm
3 gian: gian giữa để thờ cúng, một gian bên để tiếp khách và là nơi con trai
chưa lập gia đình nằm, gian bên kia là buồng ngủ dành cho đàn bà, con gái, đôi
vợ chồng và bếp.
Người Pà Thẻn thờ cúng tổ tiên và tin vào sự tồn tại của
các siêu linh với quan niệm có hai loại ma: lành và dữ. Ma lành gồm các thần ở
trên trời, tổ tiên, thổ địa…; ma dữ như ma sông, ma suối, ma của người chết bất
đắc kỳ tử… thường phá hoại mùa màng, làm hại gia súc. Người Pà Thẻn cũng có nhiều
tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp như: cúng trước khi tra hạt, lễ cúng hồn
lúa, lễ cúng cơm mới. Theo truyền thuyết của người Pà Thẻn, sự xuất hiện của
cây lúa là do 3 con vật: chó, mèo, lợn lấy trộm giống lúa trên trời về cho con
người nên khi cúng cơm mới phải cho 3 con vật trên ăn trước. Khi hạn hán kéo
dài, dân bản làm lễ cầu mưa. Các nghi lễ liên quan đến chăn nuôi, săn bắn cũng
được chú trọng.
Giống như các dân tộc khác ở vùng Đông Bắc, ngoài Tết
Nguyên đán vào đầu năm mới, người Pà Thẻn cũng làm Tết Thanh minh, Tết 5/5, Tết
cơm mới... Hàng năm, họ cúng rừng thiêng vào ngày rằm tháng Ba âm lịch nhằm cảm
tạ các vị thần đã bảo vệ họ và tiếp tục phù hộ cho dân làng mùa màng tươi tốt,
gia súc phát triển, con người khỏe mạnh. Đặc biệt, sau khi gặt hái xong vụ mùa,
nhà đã đầy thóc, củi đã đầy sân, người Pà Thẻn tổ chức nhảy lửa. Họ tin rằng
luôn có các vị thần che chở, bảo vệ họ vượt qua nguy hiểm, hoạn nạn; trong đó,
thần lửa là vị thần tối cao nhất được tôn thờ. Vì vậy, cứ vào dịp cuối năm, người
Pà Thẻn lại tổ chức lễ hội nhảy lửa để tất cả người dân thể hiện lòng thành
kính với thần. Ngày 01/6/2023 lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn đã được Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quyết định công nhận là di sản văn hóa phi vật
thể quốc gia.
Tại khu trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam, hiện vật của dân tộc Pà Thẻn được giới thiệu trong trưng bày về các
dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Các
thông tin về hiện vật và bài viết đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ: Việt,
Pháp và Anh.