Dân tộc Pu Péo là một
trong các dân tộc thiểu số có số dân số ít người ở nước ta (903 người - năm 2019). Họ có tên tự gọi là Kabeo và các tên gọi
khác là La Quả, Penti, Lô Lô. Người Pu Péo từ Trung Quốc vào Việt Nam cách đây
200 - 300 năm, chia làm nhiều đợt. Hiện nay, người Pu Péo sống chủ yếu ở tỉnh Tuyên Quang. Người Pu Péo nói nhóm
ngôn ngữ Ka Đai (thuộc ngữ hệ Thái – Ka Đai), nói giỏi tiếng Hmông, Quan Hỏa.
Người Pu Péo chủ yếu trồng trọt trên ruộng
bậc thang và làm nương rẫy, với kinh nghiệm phong phú và kỹ thuật canh tác tốt,
họ đã biết cấy lúa thâm canh và trồng xen ngô, sắn, đậu… Chăn nuôi phát triển
với nhiều loại gia súc, gia cầm; những nghề thủ công, tiêu biểu như: nghề rèn,
nghề làm ngói, làm mộc, đan lát, nấu rượu ngô vẫn được giữ gìn. Một số người Pu
Péo còn tham gia vào hoạt động trao đổi buôn bán ở địa phương và qua biên giới.
Xưa kia họ ở nhà sàn. Do gặp phải khó khăn
trong việc khai thác gỗ làm nhà nên hiện nay đồng bào đã chuyển sang làm nhà
trệt như người Hoa, Hmông hay một số dân tộc khác trong vùng. Nhà của họ là nhà
trình tường hay chỉ là ván bưng, lợp ngói máng hoặc cỏ gianh.
Phương tiện vận chuyển chủ yếu vẫn là gùi đeo
lưng, trong khi xe đạp và xe gắn máy mới chỉ được sử dụng trong những năm gần
đây để thay thế dần hình thức đi bộ và cưỡi ngựa trước kia, song cũng chưa thực
sự phổ biến.
Nguồn lương thực được sử dụng trong các bữa
ăn của người Pu Péo chủ yếu là các sản phẩm từ trồng trọt như lúa, ngô. Từ hai loại lương thực chính này, đồng bào chế biến nhiều món ăn khác nhau:
cơm, cháo, chè và các loại bánh... Ngoài ra, đồng bào còn trồng thêm các loại
cây khác như dong riềng, tam giác mạch. Thực phẩm dùng trong các bữa ăn hằng
ngày của người Pu Péo chủ yếu là các loại rau, đậu, bầu, bí. Người Pu Péo đặc
biệt thích ăn các món luộc chấm nước mắm hoặc muối ớt và các món canh rau. Một
số món ăn chính trong bữa ăn hằng ngày của người Pu Péo gồm có: Cơm (mí),
các món luộc (dúm lang), xào (sạ), canh (bắc ong), thịt lợn treo gác bếp (eo lắp). Bên cạnh các loại đồ uống thông thường như nhiều dân tộc
khác, người Pu Péo có một số đồ uống đặc trưng là các loại nước kết hợp với
thảo mộc (rễ, lá cây rừng, lá chè) và rượu. Loại rượu đặc trưng nhất là rượu
ngô (pâu hú) được nấu bằng men lá.
Áo phụ nữ mặc hai lớp. Áo ngoài xẻ ngực,
không khuy cài, xung quanh gấu và hò
áo được trang trí bằng cách đắp những miếng vải màu khác nhau xếp thành hình
tam giác, hình vuông hay hình quả trám; cổ tay áo viền những khoanh vải khác
màu. Áo ngắn mặc trong, cài khuy bên nách phải cũng được trang trí bằng vải màu
như áo trong. Tóc của phụ nữ vấn trước trán gài lại bằng chiếc lược gỗ, phủ
khăn vuông. Đàn ông Pu Péo thường mặc bộ quần áo nhuộm màu chàm hoặc áo xanh,
quần đen. Áo của đàn ông Pu Péo được may dài đến quá đầu gối, vạt áo trước ngắn
hơn vạt áo sau khoảng 15cm. Y phục của đàn ông đặc biệt ở chỗ, ống cổ tay được
may rộng khoảng 30 - 40cm. Chiếc áo này được mặc vào các dịp lễ,
tết, cưới xin, ma chay. Giày của đàn ông thường tự khâu bằng vải màu đen và vỏ
mo nang từ cây nứa, cây mai.
Người Pu Péo tồn tại song song hai loại dòng
họ. Một loại được gọi theo tên bằng chữ Hán, đọc theo cách phiên âm của địa
phương như Củng, Tráng, Phù… được sử dụng chính thức trong các giấy tờ. Một
loại họ khác cổ hơn, thể hiện mối dây liên lạc máu mủ giữa các thành viên của dòng họ, mỗi dòng họ
như thế thường gồm một cặp như kacung-kacăm, karảm-kachăm,
karu-ka rựa, kabu-kabởng.
Người Pu Péo thờ cúng tổ tiên ba đời, mỗi đời
tượng trưng bằng một hũ sành trên bàn thờ, ít nhất 3 hũ cho 3 đời. Vào dịp tết Nguyên đán, họ làm bánh chưng
đen cúng tất niên, hôm sau làm bánh chưng trắng mừng năm mới. Họ tin mỗi người có 8 hồn, 9 vía. Đêm 30 tết
Nguyên đán, các gia đình đều làm lễ gọi hồn cho từng
thành viên trong nhà. Sáng mồng
một Tết, nam nữ đi gánh nước vàng nước bạc lấy lộc. Trong 3 ngày Tết, sau bữa
cơm, không được rửa bát; mỗi lần đến bữa, chỉ dùng giấy lau sạch với mong muốn mưa
không quá to vì sợ trôi hết đất màu. Từ mồng 3 đến 13 tháng Giêng âm lịch, cả bản tổ
chức lễ Patọng mở
đầu mùa sản xuất.
Hàng năm, người Pu Péo có nhiều ngày lễ, tết:
lễ cầu an, tết Nguyên đán (nửa đầu tháng Giêng âm lịch), tết mùng 5 tháng Năm... Và có một số
nghi lễ trong đời sống tín ngưỡng như: Lễ cúng thần rừng (ngoãngxau), Lễ xuống đồng (pạt
oong), Lễ cúng trừ sâu bệnh, Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng cơm mới... Người Pu Péo có tục hát đối đáp trong đám cưới.
Trước kia, trống đồng được dùng phổ biến
nhưng ngày nay trống chỉ dùng trong các dịp lễ chay. Theo phong tục Pu Péo, có
trống “đực” và trống “cái”
được ghép với nhau thành từng đôi. Hai trống treo quay mặt vào nhau, một người
đứng giữa cầm củ chuối gõ trống phục vụ lễ cúng.
Chủ làng là người cao tuổi nhất làng, có
uy tín và nhiều kinh nghiệm trong ứng xử, thông hiểu phong tục, tập quán và có
thể giữ luôn vai trò là thầy cúng để chủ trì các lễ cúng của bản. Chủ làng
được người dân tín nhiệm bầu lên từ tập thể các chủ hộ trong bản, họ không chỉ
đóng vai trò quản lý mọi công việc từ đời sống hàng ngày đến lao động sản xuất, mà còn có vai trò tâm linh đối với người
dân trong bản.
Tại
khu trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của dân tộc Pu
Péo được giới thiệu trong trưng bày về
các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Ka
Đai ở tầng 2 của tòa Trống đồng. Các thông tin về hiện vật và
bài viết đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ: Việt, Pháp và Anh.