Dân
tộc Raglai là cư dân bản địa ở Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo, có dân số
hơn 146.613 người (2019), cư trú chủ yếu ở vùng núi của tỉnh Khánh Hòa. Ngoài
ra, một số ít cư trú rải rác tại các địa phương của tỉnh Lâm Đồng.
Nguồn
sống chính của người Raglai là đốt nương làm rẫy. Trên rẫy, họ trồng lúa, bắp,
đậu, bầu, bí và cây ăn trái. Rẫy được phát bằng chà gạc, dao, rựa, rìu; họ sử dụng gậy chọc lỗ tra hạt. Ngoài ra, nghề rèn và
đan lát cũng phổ biến trong cộng đồng này. Chăn nuôi gia cầm, gia súc như trâu,
lợn, gà, vịt phổ biến; một số nơi còn biết làm
lúa nước.
Người Raglai ăn hai
bữa ăn chính vào buổi sáng và buổi chiều. Cơm trưa thường được mang lên rẫy.
Canh được nấu lẫn thịt, cá và các loại rau là món ăn được ưa thích. Đồ uống gồm
nước lã đựng trong vỏ bầu khô và rượu cần. Thuốc lá tự thái, quấn trong vỏ bắp
ngô được dùng phổ biến trong các gia đình.
Trước đây, người
Raglai sống chủ yếu trong nhà sàn dài. Tuy nhiên, hiện nay nhà sàn dài không
còn nữa, phần lớn dân cư đã chuyển sang nhà trệt, có diện tích rộng khoảng 12 - 14m2,
mái lợp bằng tranh hoặc lá mây, vách phên đan hay trát đất.
Về
trang phục, ngày nay nam giới thường mặc quần âu và áo sơ mi trong khi phụ nữ
thường mặc váy hoặc quần áo truyền thống như quần và áo bà ba. Trong quá khứ,
đàn ông thường mặc khố đơn giản, còn phụ nữ mặc áo dài phối hợp với ô vuông màu
đỏ, trắng xen kẽ nhau.
Như các dân tộc
khác ở Trường Sơn - Tây Nguyên, phương tiện vận chuyển của dân tộc Raglai là
gùi. Gùi được đan đơn giản, không hoa văn trí với các kích cỡ khác nhau.
Mỗi làng là nơi
sinh sống của nhiều dòng họ. Trong những trường hợp cần thiết “Hội đồng già
làng” được hình thành dựa trên sự thừa nhận của mọi thành viên trong làng. Mỗi
đơn vị cư trú đều có một người đứng đầu, là người có công tìm đất lập làng. Già làng là người điều hành mọi hoạt động, chủ
trì các lễ hội, tổ chức đội ngũ phòng chống thú dữ cũng như các lực lượng xâm
nhập... Khi nhiều làng cùng sinh tụ trên một vùng rừng núi
thì ở đó có một người là chủ núi bên cạnh các chủ làng cai quản rừng núi, nương rẫy thuộc sở hữu gia
đình, sở hữu dòng họ và sở hữu cộng đồng. Ngoài ra, còn có chủ
Xử việc phân xử sự việc lớn nhỏ xảy ra trong làng trên cơ sở luật tục, những
kiêng cữ cấm kỵ, phong tục tập quán...
Người Raglai sống theo chế
độ mẫu hệ, vẫn giữ tục “con gái bắt chồng”, đàn
ông sống trọn đời ở nhà vợ, con cái đều lấy họ mẹ. Thông thường con gái út
trong gia đình được thừa hưởng tài sản, nhưng có trách nhiệm chăm sóc bố mẹ khi
về già. Mẹ hay vợ là chủ nhà có quyền quyết định trong gia đình. Cô gái nếu ưng
thuận chàng trai nào thì nói với bố mẹ lo lễ cưới chồng. Trong hôn nhân, ngoài quyền của người mẹ, tiếng nói của ông cậu khá quan trọng. Tuy
nhiên, trong các gia đình mà đàn
ông Raglai lấy vợ là người Kinh hay người dân tộc sống theo chế độ phụ
hệ thì quyền trong gia đình nghiêng về người
chồng.
Theo chu kỳ sản xuất, người Raglai
thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu
hoạch. Theo chu kỳ đời người, đó là các lễ tiết khi sinh nở, lúc ốm đau,
rồi cưới xin, ma chay. Những nghi lễ lớn trong năm thường tập trung vào khoảng
tháng 1-2 dương lịch, khi đã thu hoạch rẫy, gồm cả lễ mừng thu hoạch, cưới xin
và lễ bỏ mả.
Người Raglai có kho tàng truyện cổ tích, thần thoại, tục ngữ, ca dao,
những làn điệu dân ca... thể hiện tâm tư, tình cảm của tộc người. Nhạc cụ phổ
biến của đồng bào gồm: khèn bầu, khèn môi, đàn ống tre; ngoài ra, còn có bộ
chiêng đồng gồm 12 chiếc. Tuy nhiên, có thể sử dụng bộ chiêng gồm 4, 5, 6, 7 hay 9 chiếc. Người Raglai cũng là
cư dân biết sử dụng những thanh đá kêu, ghép thành bộ, thường gọi là đàn đá, đánh thay chiêng, khá độc đáo và lý thú. Người Raglai hay chơi thả diều và thi thả diều.
Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, văn hóa
của người Raglai được giới thiệu tại khu trưng bày nhóm ngôn ngữ Nam Đảo, tầng
2, tòa Trống đồng. Các thông tin về hiện vật và bài viết đều được thể hiện
bằng ba ngôn ngữ: Việt, Pháp và Anh.