image banner
Người Sán Dìu

Dân tộc Sán Dìu là một trong ba dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng) ở Việt Nam, có dân số hơn 183.000 người (2019), cư trú chủ yếu ở các tỉnh: Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hải Phòng, Đồng Nai, Hà Nội, Lâm Đồng. Họ tự gọi là San Déo nhín (Sơn Dao nhân), tức người Dao ở trên núi và được các dân tộc khác gọi là Trại, Trại đất, Mán Quần cộc, Mán Váy xẻ... Người Sán Dìu di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm nay.

Người Sán Dìu tuy làm ruộng nước nhưng không nhiều, canh tác ruộng khô là chính. Ngoài các loại cây trồng thường thấy ở nhiều vùng như lúa, ngô, khoai, sắn…, họ còn trồng nhiều loại cây có củ, cây ăn quả, cây công nghiệp (sơn, trẩu, sở, chè). Phương tiện vận chuyển của họ độc đáo ở chiếc xe quệt có hai thanh càng gỗ thay cho bánh, được một con trâu kéo lết trên mặt đất, dùng để vận chuyển tất cả mọi thứ, từ thóc lúa, củi cho đến phân bón.

Nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, thả cá cũng khá phá triển. Những lúc nông nhàn, người Sán Dìu vẫn khai thác lâm thổ sản và săn bắn để bảo vệ mùa màng và có thêm thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày.

Ngoài nghề nông là chính, người Sán Dìu còn làm một số nghề phụ như đan lát, kéo sợi, dệt vải, gốm, mộc rèn. Nghề mộc ít người biết đến và chỉ làm được một số nông cụ và gia cụ đơn giản. Nghề nề cũng là nghề mới xuất hiện. Hiện nay, nghề trồng bông dệt vải giảm đi nhanh chóng, trong gia đình chỉ còn các cụ già lưu giữ trang phục truyền thống, đa số các thế hệ trẻ hầu như đã chuyển sang mua quần áo may sẵn. Xưa, người Sán Dìu có nghề dùng giấy dó để ghi chép gia phả, văn mo, lịch, truyện, cổ tích, thơ ca. Hiện nay, nghề làm giấy dó đã bị mai một dần.

Trang phục truyền thống của phụ nữ Sán Dìu gồm áo ngắn, áo dài, khăn trùm đầu, xà cạp quấn chân, váy... Váy gồm 2 hoặc 4 mảnh vải rời nhau. Họ sử dụng những chiếc túi đựng trầu may hình múi bưởi, thêu trang trí, con dao cau được để trong bao gỗ chạm khắc. Nam giới nay ăn vận như người Việt, nhưng trước kia thường ngày mặc áo ngắn 5 thân màu nâu, quần kiểu chân què có cạp lá tọa, vấn khăn đầu rìu.

Làng xóm của người Sán Dìu tựa như làng người Việt, có lũy tre bao bọc và giữa các nhà thường có tường hay hàng rào. Nhà của người Sán Dìu ở Tây Bắc không khác gì người Kinh, nhiều nhà được xây bằng gạch, mái lợp ngói. Còn ở vùng Đông Bắc, nhà không khác gì các dân tộc khác xung quanh, nhà đất tường trình hoặc xây bằng gạch mộc.

Người Sán Dìu ăn cơm tẻ là chính, có độn thêm khoai sắn. Sau bữa ăn, họ thường húp thêm bát cháo loãng như người Nùng. Ngoài ra, người Sán Dìu còn có khau nhục, thịt thính, thịt ướp chua, bánh lá ngải, xôi nhuộm màu, bánh chưng gù, bánh tài lồng ệp, canh gà bản địa nấu với rượu và lá ngải cứu, thịt muối, cháo khoai, sắn. Thức uống hàng ngày là nước chè xanh, lá vối, cháo loãng. Rượu được dùng nhiều trong các dịp lễ, tết, đình đám.

Người Sán Dìu tin “vạn vật hữu linh”, đề cao thờ cúng tổ tiên, đồng thời chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Tổ tiên được thờ tới 6 - 7 đời, thậm chí 10 - 12 đời. Các gia đình thờ Táo quân (vua bếp), Thổ công, Thổ địa, bà Mụ (nặn ra người và bảo hộ trẻ nhỏ). Các thầy cúng thường có thêm bàn thờ Phật Bà Quan Âm, bàn thờ Tam Thanh, bàn thờ tổ sư nghề cúng bái. Ngoài ra, người Sán Dìu còn thờ thành hoàng ở đình.

Hàng năm, người Sán Dìu có nhiều lễ tết: Tết Nguyên đán, Hàn thực (3/3), Đoan ngọ (5/5), Vu lan (14/7)..., các nghi lễ nông nghiệp: thượng điền, hạ điền, cúng thần nông, Tết Cơm mới, Tết Đông chí, lễ hội Đại phan, lễ cầu an, lễ cầu mùa, Tết Mười Tư (14 tháng Bảy âm lịch), lễ rửa cày bừa… Riêng Tết Đông chí còn mang thêm ý nghĩa cầu mong có con đàn, cháu đống. Những người đã lấy nhau lâu mà vẫn chư có con thì sau khi ăn Tết xong, người vợ về nhà bố mẹ để ở. Người chồng cho ông mối đến hỏi và sau đó tổ chức cưới lại như là cưới vợ mới. Mừng sinh nhật và mừng thọ của người già được chú trọng.

Lễ hội lớn nhất của đồng bào Sán Dìu là lễ hội Đại phan, tức là lễ cơm lớn (được no), thực chất là lễ cầu mùa thường được tổ chức vào ngày nông nhàn, sau vụ cấy, vụ thu hoạch hoặc vào mùa xuân. Ngày 4/8/2022 theo Quyết định số 1846/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lễ hội Đại phan của người Sán Dìu đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Dân tộc Sán Dìu có một kho tàng văn học nghệ thuật khá lớn và giá trị ở nhiều thể loại như thơ ca, ca dao, tục ngữ, truyện cổ, câu đố, dân ca… Đến nay, kho tàng văn học này đã bị mai một ít nhiều, không còn giữ được trọn vẹn cả một hệ thống nguyên tác nguyên sơ của nó.

Theo truyền thống, âm nhạc và múa chỉ phục vụ nghi lễ. Người Sán Dìu có nhiều loại nhạc cụ: trống, thanh la, não bạt, kèn, sáo, tù và, một số điệu múa: dâng đèn, chạy đàn, múa gậy... Soọng cô, lối hát giao duyên nam nữ, ứng khẩu bằng thơ 7 chữ, thường diễn ra trong đám cưới, ngày tết, hội đầu xuân, chợ phiên... rất hấp dẫn với người Sán Dìu. Các trò chơi dân gian rất phong phú: đi cà kheo, kéo co, đấu vật, đánh quay, đuổi gà vào chuồng, đuổi chó vào cũi...

Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, văn hóa của người Sán Dìu được giới thiệu tại khu trưng bày nhóm ngôn ngữ Hán, tầng 2, tòa Trống đồng.

 

Người viết: Trần Thị Thu Thủy; Ảnh: Bảo tàng DTHVN
Nguồn bài viết: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Tin cùng chuyên mục
Đến với bảo tàng
  • Đang online: 1
  • Tất cả: 1