
Theo
số liệu điều tra dân số năm 2019, người
Si La có dân số 909 người, là một trong 5 dân tộc ở Việt Nam có dân số dưới
1.000 người và là một trong 6 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ
Hán - Tạng). Căn cứ vào tài liệu công bố và lời kể của những người già có uy tín, người Si La di cư từ tỉnh
Vân Nam (Trung
Quốc)
sang Lào,
sau đó từ Lào vào Việt Nam cách đây khoảng 150 năm. Hiện nay, người Si La cư
trú ở một số bản hẻo lánh ở xã Can Hồ, tỉnh Lai Châu và xã Chung Chải, tỉnh Điện
Biên. Họ tự gọi mình là Cú Dề Xừ, còn
các dân tộc khác gọi họ là Khá Pé, nghĩa là váy ngược để phân biệt cách mặc váy
quấn ra phía sau của họ khác với người Thái giắt váy về phía trước.
Trước đây, người Si La sống chủ yếu bằng trồng ngô, lúa
trên nương du canh. Gần đây, họ chuyển sang định canh, định cư và bắt đầu trồng
lúa nước, nuôi trâu phục vụ canh tác. Nông nghiệp đóng vai trò chính nhưng kinh
tế hái lượm vẫn giữ vị trí quan trọng trong cuộc sống.
Người Si La ở nhà trệt, có hai gian, hai chái, nền đất,
có hiên trước rộng, mái lợp bằng cỏ tranh, vách liếp hoặc vách gỗ. Nhà chỉ có một
cửa ra vào, trừ nhà trưởng họ có thêm một cửa phụ ở nơi đặt bàn thờ và chỉ được
mở vào dịp cúng lễ chung cho cả dòng họ. Hiện nay, người Si La vẫn ở nhà trệt
nhưng được làm kiên cố, vững chắc hơn; một số chuyển sang nhà sàn giống như nhà
sàn của người Thái nhưng đa phần diện tích nhỏ hơn.
Tín ngưỡng của người Si La là vạn vật hữu linh. Hàng năm,
họ tổ chức lễ cúng bản, cúng hồn lúa và cúng bếp lửa; trong đó, cúng bản là lễ
to nhất trong năm. Các gia đình người Si La đều có bàn thờ tổ tiên, việc thờ
cúng do nam giới đảm nhiệm.
Quan hệ hôn nhân của người Si La là quan hệ một vợ một chồng
bền vững và nghiêm cấm hôn nhân cùng dòng họ mặc dù khác chi. Người Si La có tục
cưới hai lần, lần thứ hai cách lần thứ nhất khoảng một năm. Gia đình Si La là
kiểu gia đình nhỏ phụ quyền, người cha, người chồng có vai trò quan trọng trong
gia đình.
Về phong tục, tập quán trong sinh đẻ, phụ nữ Si La sinh
con trong nhà và đẻ ngồi; sản phụ phải kiêng khem nhiều sau khi sinh. Để bảo vệ
hồn đứa trẻ, người Si La đựng nhau thai trong ống nứa, đặt cuống hướng lên miệng
ống để đứa trẻ ít quấy khóc. Ống đựng nhau thai được đổ đầy tro bếp và trấu
thóc để hút khô nước, tránh cho nhau thai nhanh thối và dựng ở góc bếp cho đến
ngày đặt tên mới đem chôn hay treo cạnh chuồng gà. Ngày nay, hầu hết phụ nữ Si
La sinh con tại trạm y tế địa phương hoặc bệnh viện và áp dụng hình thức y tế
hiện đại để chăm sóc trẻ và sản phụ sau khi sinh.
Khi trong nhà có người chết, thi hài được quàn trong nhà
5-7 ngày, có thầy cúng giúp tang chủ thực hiện các nghi thức đưa hồn người chết
về với tổ tiên. Tang lễ ngày nay
của người Si La được rút ngắn, thường diễn ra trong 4 ngày 3 đêm với nhiều nghi
lễ như lễ cúng chỉ đường, lễ xua đuổi tà ma, lễ phúng viếng, lễ đưa người
chết lên mộ, lễ gọi vía người chết trở về, lễ viếng mộ, lễ bỏ tang, lễ nhập bàn
thờ. Những nghi lễ này là một cuộc hành trình dài để đưa tiễn người chết trở về
thế giới tổ tiên.
Nữ phục Si La được trang trí khá cầu kỳ, trên vạt áo ngực
gắn đồng xu bạc, xu nhôm. Khăn đội đầu nữ được phân biệt theo lứa tuổi và tình
trạng hôn nhân. Các thiếu nữ Si La buộc tóc sau gáy, quấn khăn trắng xung quanh
bím tóc, đồng bào quan niệm đó là màu của sự tinh khiết, trinh trắng. Sau khi lấy
chồng và sinh con, phụ nữ Si La chuyển sang đội khăn màu đen và màu xanh.
Trong trưng bày thường xuyên ở Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam, hiện vật của người Si La gồm gùi đeo qua trán, mâm đan, bao đeo dao... được
giới thiệu cùng với hiện vật của các dân tộc khác trong không gian các dân tộc
thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến ở tầng 2 của tòa Trống đồng. Tất cả bài viết và
thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ: Việt, Pháp và Anh.
Người viết: Vũ Hồng Nhi
Ảnh: Bảo tàng DTHVN