image banner
Người Thổ

Dân tộc Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á). Cách đây trên dưới 4.000 năm, có một bộ phận người Việt cổ sống ở vùng trung du và miền núi tỉnh Nghệ An, một phần ở tỉnh Thanh Hóa. Về sau, một nhóm chuyển xuống vùng đồng bằng, dần dần trở thành người Việt; bộ phận khác vẫn ở lại địa bàn cư trú cũ, chính là tổ tiên của người Thổ ngày nay. Ngoài ra, người Thổ còn có các tên gọi khác như: người Nhà Làng, Mường, Con Kha. Trước đây, một bộ phận người Thổ còn được gọi là “Xá Lá Vàng” vốn là tên gọi chung chỉ các nhóm cư dân du canh du cư thiếu ổn định nhất... Họ có các nhóm địa phương như: Kẹo, Mọn, Cuối, Lâm La, Ðan Lai, Ly Hà, Tày Poọng. Người Thổ có 91.430 người (Theo kết quả điều tra dân số năm 2019).

Địa bàn cư trú hiện nay của người Thổ  tập trung ở vùng trung du và miền núi của hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa, cư trú thường theo nhóm địa phương như:  nhóm Tày Poọng sống tập trung ở xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; nhóm Đan Lai - Ly Hà cư trú ở một số xã thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; các nhóm khác (Mọn, Kẹo, Cuối, Lâm La) cư trú ở các huyện Như Xuân (tỉnh Thanh Hóa), Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, thị xã Thái Hòa (tỉnh Nghệ An).

Ðơn vị hành chính nhỏ nhất trước kia của người Thổ là làng (xóm) do ông trùm làng đứng đầu. Trùm làng được bầu lại hằng năm và có nhiệm vụ đốc thúc công việc sưu dịch, thuế khóa, giải quyết các vụ việc xảy ra trong phạm vi của làng. Ngày nay, các xóm được vận hành theo tổ chức hành chính nhà nước, với người đứng đầu là trưởng xóm vận hành cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Mặt trận tổ quốc…

Từ xưa, các nhóm Thổ chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp nương rẫy; ngoài lúa, họ còn trồng xen các loại ngô, sắn, khoai, lạc, rau cải… Đến năm 1998, khi có chỉ thị “đóng cửa rừng”, người Thổ bắt đầu làm nhiều ruộng nước với kỹ thuật gieo cấy, làm đất về cơ bản giống người Kinh trong vùng. Đất đai vùng người Thổ rất thích hợp với cây gai; ngoài cây gai được trồng, còn có cây gai mọc tự nhiên trong rừng. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, gai đã được thu hái và bán ở chợ; sau khi thành lập Hợp tác xã thì việc trồng và thu hái gai do Hợp tác xã đảm nhiệm, Nhà nước đứng ra thu mua. Sợi gai chủ yếu được dùng để đan võng, túi đeo, túi đựng các vật dụng và để làm bánh gai. Đến nay, cây gai chỉ được trồng với diện tích rất nhỏ; thay vào đấy, họ trồng mía để bán cho các nhà máy đường trong vùng và vùng lân cận. Nguồn thu từ cây mía đã giúp một bộ phận người Thổ tăng thêm nguồn thu, phát triển kinh tế.

Các nhóm Thổ đều có tín ngưỡng vạn vật hữu linh. Người Thổ thờ thổ công, thần bếp, Thành hoàng, các loại ma (ma rừng, ma suối, ma cây, ma núi...). Trong phạm vi gia đình, ngoài việc thờ cúng tổ tiên, họ còn làm lễ cúng bà mụ mỗi khi trẻ em đau ốm và cúng vía cho người lớn vào dịp lễ, Tết, hay khi đau ốm.

&nbspNhà ở truyền thống là loại nhà sàn được che xung quanh bằng liếp nứa hoặc gỗ. Nhưng ở một số vùng, nhà lại được làm theo kiểu cột ngoãm. Ngày nay, nhà cửa của họ cũng đang trong quá trình chuyển từ nhà sàn sang nhà đất như kiểu nhà người Kinh ở trong vùng.

Trước đây, người Thổ ăn gạo nếp là chính nhưng hiện nay hầu hết đã chuyển sang ăn gạo tẻ. Những khi giáp hạt đói kém, họ thường ăn các loại củ, rau và quả rừng. Trong các ngày lễ, Tết, người Thổ thường làm các loại bánh chưng, bánh dày, bánh gai. Rượu (rượu sắn, rượu gạo, rượu cần) được cả nam và nữ ưa thích, là đồ uống không thể thiếu trong các dịp lễ, Tết. Bên cạnh đó, người Thổ thích ăn trầu, mời trầu tiếp khách ngày thường, hoặc trong dịp Tết, đám cưới thì không thể thiếu trầu.

Phụ nữ Thổ mặc áo trắng cổ tròn, cài khuy giữa; váy bằng vải sợi bông nhuộm chàm, dệt kẻ sọc ngang, khi mặc những đường sọc đó tạo thành vòng tròn song song quanh thân; đội khăn vuông màu trắng giống người Mường và để tang bằng khăn dải dài trắng giống người Việt. Bộ nam phục gồm quần đũng rộng, màu nâu hoặc màu cháo lòng có cạp vấn; áo ngắn hoặc áo lương màu đen, đầu đội khăn nhiễu tím, chân đi guốc mộc.

Tục ngủ mái thịnh hành trong các nhóm Thổ ở vùng Nghĩa Ðàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp nhưng lại vắng bóng ở các nhóm Thổ vùng Tương Dương, Con Cuông. Từ những đêm ngủ mái, các đôi nam nữ tìm hiểu nhau dẫn đến kết hôn. Hôn lễ của người Thổ phải qua nhiều bước. Thông thường khi cưới, nhà trai phải dẫn một con trâu, 100 đồng bạc trắng, 30 vuông vải, 6 thúng xôi, một con lợn. Nhiều vùng còn có tục ở rể.

Phụ nữ sau khi sinh được ba ngày thì cúng bà mụ để đặt tên cho con và người mẹ phải kiêng cữ trong vòng một tháng. Trong tháng đó, gia đình thường cắm lá xanh ở cổng để kiêng người lạ vào nhà. 

Trước đây, ma chay được tổ chức khá linh đình và tốn kém, có nhà đã giết tới 12 con trâu, người chết được quàn trong nhà hàng tuần. Quan tài của người Thổ là một cây gỗ nguyên, đục bụng, giống như cách làm thuyền, làm máng đập lúa. Khi đặt quan tài cho phía chân xuôi theo dòng nước chảy. Sau khi chôn cất, cúng người chết vào dịp 30 ngày, 50 ngày và 100 ngày. Ngày nay, đám tang của người Thổ cũng đã giản lược nhiều, ít tốn kém và không gây lãng phí.

Vốn văn nghệ dân gian của người Thổ khá đa dạng, các bài hát đồng dao vẫn được lưu truyền, ca dao, tục ngữ rất phong phú. Từ nhiều năm nay, ngoài việc chú trọng phát triển đời sống kinh tế - xã hội, các địa phương luôn tìm cách để khôi phục nét văn hóa truyền thống của đồng bào Thổ.

Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Thổ  được giới thiệu trong không gian các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường ở tầng 1 của tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).

Người viết: Võ Thị Mai Phương
Ảnh: BTDTHVN

Thổ
Nghệ An
1996Thổ
Nghệ An
1996Thổ
Nghệ An
1996Thổ
Nghệ An
1997
Tin cùng chuyên mục
Đến với bảo tàng
  • Đang online: 1
  • Tất cả: 1