Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị
Văn phòng Trung ương Đảng - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo
Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
vừa ban hành Thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm,
Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ
thống chính trị (Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ).

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô
Lâm,Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số chủ trì Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ
thống chính trị.
Nội dung Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ
như sau:
Ngày 25/6/2026, tại Trụ sở Trung ương
Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương
về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban Chỉ
đạo) đã chủ trì Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị.
Tham dự Phiên họp có các đồng chí Phó
Trưởng Ban Chỉ đạo và các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, đồng chí Bí thư
Thành uỷ Hà Nội; đại diện lãnh đạo Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng uỷ
Quốc hội, Đảng uỷ Chính phủ, Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương;
các ban, cơ quan đảng Trung ương; các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc
Chính phủ: Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Tư pháp, Nội vụ, Tài chính, Công
Thương, Khoa học và Công nghệ, Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và Môi trường,
Xây dựng, Y tế, Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, Văn phòng Chính phủ, Ban Cơ yếu Chính phủ; các cơ quan của Quốc
hội, Văn phòng Quốc hội, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối
cao, Kiểm toán Nhà nước; Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam; các đồng chí thành viên Tổ Giúp việc, Hội đồng Tư vấn quốc gia.
Sau khi nghe báo cáo của Cơ quan
Thường trực Ban Chỉ đạo và ý kiến phát biểu thảo luận của các đại biểu dự họp,
đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo kết luận như
sau:
1. Sau hơn một năm quyết liệt triển
khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột
phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
(sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 57-NQ/TW), công tác chuyển đổi số trong hệ
thống chính trị đã có những chuyển biến tích cực, khá toàn diện. Nhận thức về
chuyển đổi số được nâng lên; thể chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. Một
số luật quan trọng về dữ liệu, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo được ban hành;
nhiều nền tảng số, cơ sở dữ liệu quan trọng được hình thành, đưa vào khai thác;
việc gửi, nhận văn bản điện tử, xử lý hồ sơ công việc, họp trực tuyến, cung cấp
dịch vụ công trực tuyến, khai thác dữ liệu dân cư và định danh điện tử ngày
càng đi vào thực chất, phát huy hiệu quả; công tác bảo đảm an ninh, an toàn hệ
thống thông tin và dữ liệu được quan tâm hơn. Chuyển đổi số đã góp phần quan
trọng bảo đảm hoạt động thông suốt của hệ thống chính trị, phục vụ vận hành mô
hình tổ chức mới và chính quyền 3 cấp. Một số mô hình, cách làm hiệu quả đã
được thực tiễn kiểm chứng, cần tiếp tục hoàn thiện, phổ biến và nhân rộng.
Thường trực Ban Chỉ đạo ghi nhận, biểu dương các cơ quan Trung ương và địa
phương thuộc bốn khối: Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc đã có nhiều
nỗ lực triển khai các nhiệm vụ trong thời gian qua. Bên cạnh những kết quả đạt
được vẫn còn nhiều hạn chế và điểm nghẽn cần khẩn trương khắc phục.
2. Qua báo cáo và ý kiến thảo luận tại
Phiên họp, bên cạnh những tồn tại, hạn chế cụ thể, nổi lên ba nghịch lý lớn cần
tập trung xử lý:
Thứ nhất là trong
khi nguồn lực dành cho chuyển đổi số còn hạn chế, nhưng nguồn lực đã được bố
trí lại chưa được sử dụng hiệu quả. Tỉ lệ giải ngân đến nay đạt hơn 12,2%, thấp
hơn nhiều so với tỉ lệ giải ngân vốn đầu tư công chung của cả nước. Trong khi
nhiều cơ quan, địa phương, nhất là cấp xã, còn thiếu thiết bị đầu cuối, hạ tầng
kỹ thuật và nguồn lực để làm sạch, chuẩn hoá dữ liệu, thì nguồn vốn đã bố trí
lại chậm được đưa vào sử dụng.
Thứ hai là trong
khi các cơ quan đã đầu tư nhiều hệ thống, nền tảng và cơ sở dữ liệu, nhưng mức
độ liên thông, chia sẻ và khai thác dữ liệu chưa tương xứng với nguồn lực đầu
tư và yêu cầu quản trị; dữ liệu chưa thực sự trở thành nguồn lực phục vụ quản
trị quốc gia, phát triển kinh tế số và nâng cao chất lượng phục vụ người dân,
doanh nghiệp. Thực trạng tại cấp xã cho thấy, các hệ thống, phần mềm và dữ liệu
phân tán, thiếu liên thông; cán bộ, công chức phải đồng thời thao tác trên
nhiều hệ thống do các cơ quan Trung ương và địa phương triển khai, làm phát
sinh thao tác trùng lặp, tăng áp lực xử lý công việc, ảnh hưởng đến chất lượng
phục vụ người dân, doanh nghiệp. Điều này phản ánh việc đầu tư còn phân tán,
thiếu chuẩn hoá và chưa làm rõ trách nhiệm tích hợp, dùng chung hệ thống.
Thứ ba là quyết
tâm chính trị rất lớn, nhưng kết quả triển khai ở nhiều nơi chưa tương xứng,
còn hình thức, đối phó, thiếu chuyển biến thực chất. Trong cùng điều kiện thể
chế, chính sách, có cơ quan, địa phương thực hiện tốt, trong khi một số nơi vẫn
chậm trễ, chủ yếu viện dẫn khó khăn, vướng mắc. Tỉ lệ thực hiện dịch vụ công
trực tuyến, số hoá hồ sơ và tái sử dụng dữ liệu ở các địa phương cao hơn nhiều
một số bộ, ngành Trung ương, trong khi bộ, ngành phải là nơi dẫn dắt, kiến tạo
thể chế, chuẩn hoá dữ liệu và quy trình.
Ba nghịch lý trên cho thấy điểm nghẽn
lớn nhất hiện nay không còn ở nhận thức, chủ trương hay việc bố trí nguồn lực
mà ở năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm đến cùng của từng cơ quan, đơn
vị, nhất là người đứng đầu. Vì vậy, yêu cầu trọng tâm trong thời gian tới là
phải siết chặt kỷ luật thực thi, xác định rõ trách nhiệm, đánh giá theo sản
phẩm đầu ra và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.
3. Về nhiệm vụ trong thời gian tới,
Ban Chỉ đạo thống nhất với các kiến nghị, đề xuất tại Báo cáo của Cơ quan
Thường trực, gồm nhóm nhiệm vụ cần tập trung xử lý dứt điểm trong 100 ngày và
nhóm nhiệm vụ cần triển khai để tạo đột phá; đồng thời yêu cầu tập trung thực
hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất, tập trung xử lý dứt điểm các
nhiệm vụ quá hạn, văn bản còn nợ đọng và những điểm nghẽn đã được xác định tại
Phiên họp. Các cơ quan chủ trì phải rà soát
từng nhiệm vụ, xác định rõ trách nhiệm, sản phẩm và thời hạn hoàn thành; chịu
trách nhiệm đến cùng về tiến độ, chất lượng; không để tình trạng chậm trễ, kéo
dài qua nhiều tháng, nhiều quý. Kết quả thực hiện phải được lượng hoá bằng chỉ
tiêu cụ thể và làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá
nhân, nhất là người đứng đầu.
Thứ hai, đẩy mạnh phát triển dữ liệu
và các nền tảng dùng chung. Xác định dữ liệu
là tài nguyên chiến lược, nền tảng của chuyển đổi số, vì vậy phải được tạo lập,
quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả theo nguyên tắc "đúng, đủ,
sạch, sống, thống nhất, dùng chung"; tạo ra giá trị thiết thực cho hoạt
động của cơ quan, tổ chức, người dân, doanh nghiệp, phát triển thị trường dữ
liệu và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Các cơ quan, địa phương phải xác định
việc xây dựng, cập nhật, làm sạch và quản trị dữ liệu là trách nhiệm chính trị
của mình, không phải là nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên trách công nghệ thông
tin. Từ nay đến hết năm 2026, tập trung tổng rà soát, làm sạch, chuẩn hoá, kết
nối và tổ chức khai thác dữ liệu trong toàn hệ thống chính trị. Các bộ, ngành
khẩn trương hoàn thành việc tạo lập, chuẩn hoá các cơ sở dữ liệu chuyên ngành;
kết nối, chia sẻ với Trung tâm Dữ liệu quốc gia để khai thác, dùng chung theo
quy định; ưu tiên phát triển, sử dụng hạ tầng số và nền tảng số dùng chung, hạn
chế đầu tư riêng lẻ, trùng lặp, lãng phí.
Tiếp tục định danh phương tiện giao
thông, thiết bị bay không người lái (UAV); khẩn trương thúc đẩy kết nối VNeID
với hệ thống định danh điện tử của Singapore và các nước ASEAN, đồng thời mở
rộng các ứng dụng, tiện ích trong nước, phục vụ người dân, doanh nghiệp và quản
lý nhà nước.
Thứ ba, đẩy mạnh các nhiệm vụ chuyển
đổi số phục vụ vận hành hệ thống chính trị và chính quyền 3 cấp đồng bộ, thông
suốt, hiệu quả. Tập trung hoàn thiện hạ tầng số
từ Trung ương đến cấp xã; bảo đảm đầy đủ điều kiện về thiết bị, kết nối, nền
tảng và nhân lực để các cơ quan, chính quyền các cấp vận hành thuận lợi trên
môi trường số. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi
số; hoàn thiện Cổng Dịch vụ công quốc gia, bảo đảm vận hành ổn định, thông
suốt, hiệu quả. Đối với thông tin, dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu và có
thể khai thác, tái sử dụng thì quán triệt nguyên tắc không yêu cầu người dân,
doanh nghiệp kê khai, cung cấp lại. Chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến
phải được đánh giá bằng mức độ sử dụng thực tế, sự thuận tiện và thời gian, chi
phí tiết giảm cho người dân, doanh nghiệp, không chỉ bằng số lượng thủ tục được
cung cấp trực tuyến.
Thứ tư, chủ động phát triển và ứng
dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có kiểm soát, hiệu quả. Xác
định trí tuệ nhân tạo là công cụ hỗ trợ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác và năng suất lao động, nhưng không thay thế trách nhiệm, thẩm
quyền và quyết định của con người. Việc phát triển, ứng dụng trí tuệ nhân tạo
phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền, có trách nhiệm, tránh lạm dụng; ưu tiên mô
hình tập trung, dùng chung, hạn chế đầu tư phân tán, trùng lặp, lãng phí. Đồng
thời, phải bảo đảm tuyệt đối an ninh quốc gia, an toàn thông tin và bảo vệ dữ
liệu ngay từ khâu thiết kế, sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Thứ năm, bảo đảm vững chắc an ninh
mạng, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu quốc gia. Mọi hệ
thống thông tin, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế, xây dựng và
vận hành theo yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn ngay từ đầu; không để tình trạng
triển khai xong mới bổ sung giải pháp bảo vệ. Các cơ quan, đơn vị, địa phương
chịu trách nhiệm chính về an ninh, an toàn đối với hệ thống thông tin và dữ
liệu thuộc phạm vi quản lý; khẩn trương hoàn thành việc phân loại, xác định cấp
độ an toàn hệ thống thông tin; rà soát toàn bộ quy trình thu thập, lưu trữ, kết
nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu; siết chặt quản lý tài khoản, phân quyền truy
cập và giám sát hoạt động khai thác dữ liệu. Tuyệt đối không để dữ liệu quốc
gia, dữ liệu của người dân, doanh nghiệp bị lộ, lọt, mua bán hoặc khai thác
trái phép.
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu
Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, khẩn
trương hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ chế giám sát, cảnh báo
sớm, ứng cứu sự cố và bảo vệ dữ liệu trong toàn hệ thống chính trị; nâng cao
năng lực phòng thủ chủ động trên không gian mạng; thường xuyên kiểm tra, đánh
giá và tổ chức diễn tập an ninh mạng đối với các hệ thống thông tin quan trọng,
trọng yếu. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng kết nối
Trung tâm an ninh mạng quốc gia với Hệ thống theo dõi các nghị quyết (tại địa
chỉ theodoinq.dcs.vn) để theo dõi, giám sát, cảnh báo an toàn thông tin, an
ninh mạng.
Thứ sáu, tăng cường công tác lãnh đạo,
chỉ đạo, đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả theo sản phẩm đầu
ra. Nhiệm vụ chỉ được xác định hoàn thành khi có sản phẩm
cụ thể, vận hành được, có dữ liệu kiểm chứng, có đối tượng sử dụng và tạo ra
hiệu quả thực chất. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu bộ, ngành, địa
phương, cơ quan, đơn vị phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình, trực tiếp chỉ
đạo và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng, hiệu quả chuyển đổi số thuộc
phạm vi phụ trách; gương mẫu sử dụng các nền tảng, công cụ số trong lãnh đạo,
quản lý, điều hành. Kết quả thực hiện phải được đưa vào tiêu chí đánh giá mức
độ hoàn thành nhiệm vụ, thi đua, khen thưởng; kịp thời xem xét, xử lý trách
nhiệm đối với tập thể, cá nhân chậm trễ, thực hiện hình thức, không đạt yêu
cầu. Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và uỷ ban kiểm tra các cấp xây dựng kế hoạch
kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết số
57-NQ/TW tại các cơ quan, đơn vị, địa phương.
4. Đề nghị Đảng uỷ các cơ quan Đảng
Trung ương, Đảng uỷ Chính phủ, Đảng uỷ Quốc hội, Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan
Trung ương, địa phương tập trung tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cụ thể tại Kế
hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống
chính trị và nhóm nhiệm vụ cần triển khai để tạo đột phá (tại Phụ lục kèm
theo), thường xuyên cập nhật tiến độ, thực hiện nhiệm vụ trên Hệ thống
theodoinq.dcs.vn. Giao Cơ quan Thường trực, Tổ Giúp việc theo dõi, đôn đốc việc
thực hiện của các cơ quan, địa phương, kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo.
5. Yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng,
cơ quan, đơn vị, địa phương nâng cao quyết tâm, hành động quyết liệt, xác định
rõ trách nhiệm, sản phẩm và kết quả; tạo chuyển biến rõ rệt ngay trong năm
2026, đưa chuyển đổi số thực sự trở thành động lực đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội và đổi mới mô hình tăng trưởng.
6. Giao Văn phòng Trung ương Đảng - Cơ
quan Thường trực Ban Chỉ đạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên
cứu, đề xuất tổ chức Phiên họp chuyên đề về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần hình thành phương thức sản xuất,
mô hình phát triển và động lực tăng trưởng mới, phục vụ mục tiêu tăng trưởng 2
con số và phát triển bền vững.
Đề nghị từng thành viên Ban Chỉ đạo,
người đứng đầu các bộ, cơ quan, địa phương trực tiếp chỉ đạo rà soát toàn bộ
nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý; xác định rõ nhiệm vụ chậm tiến độ, điểm nghẽn,
nguyên nhân, trách nhiệm và thời hạn xử lý. Việc tổ chức thực hiện phải bảo
đảm: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết
quả; đề cao kỷ luật thực thi, tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu.
Văn phòng Trung ương Đảng - Cơ quan
Thường trực Ban Chỉ đạo thông báo để các thành viên Ban Chỉ đạo, các cấp uỷ, tổ
chức đảng, cơ quan, đơn vị và địa phương biết, triển khai thực hiện.
Xem toàn văn Thông báo số
25-TB/CQTTBCĐ tại đây
Thong bao ket
luan (1).pdf
Nguồn bài viết: Cổng thông tin Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam