Người Ba-na, còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông và các nhóm địa phương như Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem. Người Ba-na là một trong những dân tộc bản địa lâu đời và có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Họ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me (ngữ hệ Nam Á) với số dân là 286.910 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2019). Người Ba-na chủ yếu cư trú tại hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum và miền tây các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa (theo địa giới hành chính cũ trước năm 2025).
Sinh tế chính của người Ba-na dựa vào canh tác rẫy và ruộng khô. Ruộng nước xuất hiện muộn hơn nhưng đang dần trở thành phương thức canh tác chủ đạo ở nhiều vùng. Bên cạnh đó, các hình thức canh tác nửa rẫy, nửa vườn cũng được áp dụng để trồng cây ăn quả, lương thực, rau đậu và cây dài ngày có giá trị kinh tế cao như bời lời, hồ tiêu, cà phê, mang lại sự thay đổi lớn trong cơ cấu cây trồng. Về chăn nuôi, tuy truyền thống nuôi trâu vẫn duy trì, nhưng xu hướng phát triển chăn nuôi bò theo hướng hàng hóa đang ngày càng rõ nét, cùng với việc chú trọng nuôi lợn, gà, vịt, cá. Các nghề thủ công truyền thống như đan lát, dệt vải, rèn, làm gốm, điêu khắc gỗ… đang dần mai một do khan hiếm nguyên liệu và sự cạnh tranh từ sản phẩm công nghiệp giá rẻ.
Người Ba-na sinh sống trong những ngôi nhà sàn truyền thống làm từ tranh, tre, nứa, lá. Trước đây, nhà sàn thường rất dài, có thể lên đến hàng chục gian, bao chứa cả đại gia đình, nhưng nay đã chuyển sang kiểu nhà 3 hoặc 5 gian phù hợp cho các gia đình nhỏ hơn, hoặc nhà trệt với chất liệu mới. Cửa ra vào của nhà sàn thường mở về phía mái. Ở giữa làng thường dựng một ngôi nhà công cộng - nhà rông - trung tâm của mọi hoạt động cộng đồng: đón tiếp khách, đàn ông trong làng truyền đạt tri thức, kinh nghiệm, họp bàn công việc chung và giải quyết các vấn đề quan trọng như tổ chức nghi lễ, xử án… Xưa kia, nhà rông còn là nơi trai tráng túc trực bảo vệ làng, là chỗ ngủ cho nam giới chưa vợ. Bên trong nhà rông treo đầu trâu hiến sinh, chiến tích săn bắn và các vật thiêng. Theo quy ước cộng đồng, phụ nữ thường không vào nhà rông.
Hàng ngày, người Ba-na ăn cơm gạo tẻ, thích món nướng hơn luộc. Trong các dịp cúng lễ hoặc khi có khách, họ thường uống rượu cần làm từ lúa, ngô, sắn, kê, ủ với men thảo dược. Nam nữ người Ba-na đều thích hút thuốc lá. Về trang phục, ngày thường, nam giới thường đóng khố, ở trần, mặc áo, choàng tấm choàng và quấn khăn đầu vào dịp lễ hội. Phụ nữ mặc váy quấn, áo không tay hoặc dài tay.
Người Ba-na sống quần cư thành làng (kon). Đất dựng làng thường ở gần nguồn nước, trên vùng đất cao và bằng phẳng, được cho là do thần linh (Yang) lựa chọn nên thuận lợi cho việc dựng nhà, làm rẫy, săn bắt, hái lượm. Hiện nay, diện tích đất làng bị thu hẹp đáng kể, gây khó khăn cho việc chăn thả gia súc và tổ chức lễ hội.
Hôn nhân của người Ba-na là hình thức một vợ một chồng theo nguyên tắc nội hôn tộc người và ngoại hôn dòng họ cùng với tập quán cư trú luân phiên (ở nhà vợ trước, rồi chuyển sang ở nhà chồng). Sau các chu kỳ luân cư, đôi vợ chồng sẽ ra ở riêng. Tập quán “nối dòng” trong hôn nhân đã giảm nhiều. Gia đình Ba-na là gia đình phụ quyền, nhưng người vợ vẫn có vị trí quan trọng. Trước đây, họ sống trong các đại gia đình với nhà dài hàng chục gian, nhưng nay đã chuyển sang các gia đình nhỏ hơn.
Người Ba-na tin vào sự tồn tại và sức mạnh chi phối của các vị thần linh như thần Lúa, thần Sấm sét, thần Nước, thần Lửa. Một bộ phận người Ba-na hiện theo Công giáo và Tin lành.
Đám tang của người Ba-na vẫn giữ nhiều nghi thức truyền thống. Khi có người mất, trống được đánh dài và chậm tại nhà rông để báo tang cho dân làng. Với quan niệm đêm dành cho người chết, việc chôn cất diễn ra vào chiều tối. Một ngày sau chôn cất, gia đình làm nhà mồ. Lễ bỏ mả là nghi lễ cuối cùng và quan trọng nhất, được tổ chức lớn để tiễn đưa người chết về với tổ tiên và cắt đứt quan hệ với người sống. Hiện nay, nghi lễ tang ma được đơn giản hóa hơn so với trước kia.
Văn học dân gian Ba-na phong phú với nhiều thể loại như câu đố, tục ngữ và các bài khấn trong nghi lễ; đặc biệt, trường ca và truyện cổ là những tác phẩm độc đáo, có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Người Ba-na có nhạc cụ rất đa dạng, gồm bộ dây, bộ hơi và bộ gõ. Những điệu múa dân gian Ba-na, bao gồm cả múa phục vụ nghi lễ và biểu diễn hội hè, được nhiều người ưa chuộng.
Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học học Việt Nam, hiện vật của người Ba-na được giới thiệu trong không gian các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Ngoài ra, tại Vườn Kiến trúc (khu trưng bày ngoài trời) của Bảo tàng, công chúng có thể khám phá một ngôi nhà rông to, đẹp của người Ba-na được làm bởi chính những người Ba-na đến từ tỉnh Kon Tum. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Vũ Thị Thanh Tâm