image banner
Người Chơ-ro

Người Chơ-ro, còn có tên gọi là Châu-ro, Dơ-ro, Chro hay Thượng, có dân số 29.520 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2019), thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me (ngữ hệ Nam Á). Tiếng Chơ-ro vừa có nhiều từ trong tiếng Khơ-me, vừa gần gũi với tiếng nói của những tộc người cùng nhóm ngôn ngữ ở vùng nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đến nay, người Chơ-ro ở Việt Nam sinh sống tập trung ở vùng núi thấp ở phía nam tỉnh Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong xã hội truyền thống, lối sống của người Chơ-ro có nhiều nét tương đồng với các tộc người bản địa khác ở khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên. Đó là lối sống nặng tính tự cung, tự cấp; kinh tế gia đình dựa chủ yếu vào nông nghiệp trên rẫy đa canh với phương thức phát - đốt - chọc - trỉa, mỗi năm chỉ gieo trồng một vụ. Hiện nay, người Chơ-ro chủ yếu canh tác lúa nước kết hợp trồng cây công nghiệp, cây ăn trái và rau màu. Chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn, bắt cá và hái lượm đóng vai trò đáng kể trong đời sống. Hoạt động đan lát phổ biến trong các gia đình, sản phẩm là những vật dụng thiết thực như gùi các loại, nia, mủng, phên, chiếu... Một số người làm nghề rèn, chủ yếu là sửa chữa công cụ lao động. Các nghề thủ công khác không phát triển.

Xa xưa, nam giới Chơ-ro đóng khố; phụ nữ quấn váy tấm, mùa hè ở trần hay mặc áo cánh ngắn, mùa lạnh khoác thêm tấm choàng. Họ thường đeo những chuỗi vòng cổ bằng cườm ngũ sắc hoặc vòng đồng, vòng bạc hay nhôm. Hiện nay, đại đa số người Chơ-ro ăn mặc theo lối của người Kinh cùng địa phương.

Nhà truyền thống của người Chơ-ro là nhà sàn cao, cửa ra vào mở ở hai đầu hồi. Hiện nay, nhà của họ đã có nhiều thay đổi, thường có nhiều vì kèo, cửa ra vào mở ở hướng chính của ngôi nhà như nhà người Kinh ở nông thôn Nam Bộ; một số gia đình làm nhà xây gạch, mái ngói.

Tương tự nhiều dân tộc ở nam Tây Nguyên, xã hội cổ truyền của người Chơ-ro là xã hội làng. Đời sống của mỗi người Chơ-ro gắn bó mật thiết và không thể tách rời cộng đồng làng. Mỗi làng có nghĩa địa riêng; đó là khu đất thiêng của cộng đồng, không ai được khai phá, trồng trọt. Tên làng được đặt theo tên của trưởng làng hay tên núi, rừng, suối nước cạnh làng. Chủ làng là người có uy tín và thông hiểu phong tục, tập quán của dân tộc, trông coi mọi việc trong làng. Tham gia quản lý cộng đồng còn có hội đồng già làng - những người được dân làng tín nhiệm bầu ra để điều hành công việc chung của làng và duy trì các luật tục. Hiện nay, tổ chức cộng đồng tự quản của người Chơ-ro là ấp/thôn, dưới sự quản lý hành chính trực tiếp của xã.

Trước đây, người Chơ-ro theo chế độ mẫu hệ sau đó dần chuyển sang chế độ phụ hệ. Việc lấy vợ, lấy chồng của người Chơ-ro đang tồn tại cả hai hình thức: nhà trai đi hỏi vợ hoặc nhà gái đi hỏi chồng. Hôn lễ tổ chức tại nhà gái, sau lễ thành hôn, cặp đôi sẽ cư trú bên nhà vợ, sau vài năm sẽ làm nhà ra ở riêng. Mặc dù tính chất gia đình có nhiều biểu hiện song phương nhưng trong gia đình, nữ giới được vị nể hơn nam giới, quyền thừa kế tài sản vẫn thuộc về nữ giới.

Người Chơ-ro theo tập quán địa táng, mộ phần được đắp cao lên theo hình bán cầu. Trong 3 ngày đầu, người ta phải ra mộ gọi hồn người chết về ăn cơm, sau đó là lễ “mở cửa mả” với 100 ngày cúng cơm. Trong đám tang hiện nay, người Chơ-ro sử dụng vàng mã. Hàng năm, vào ngày 23 tháng Chạp, họ cũng đi tảo mộ giống người Kinh. Tập tục cúng “thần rừng” đã mai một, nhưng cúng “thần lúa” hàng năm vẫn được coi trọng ở nhiều nơi, nhằm mục đích cầu mùa.

Quá trình thay đổi ở vùng người Chơ-ro đã diễn ra từ lâu, gắn liền với sự phát triển mối quan hệ với người Kinh, cả về kinh tế, xã hội và văn hóa. Tuy nhiên, người Chơ-ro vẫn giữ tập quán làm rượu cần, coi ché và bộ chiêng 7 chiếc là tài sản giá trị... Về âm nhạc, ngoài cồng chiêng, đôi khi có thể gặp vài loại nhạc cụ truyền thống khác như tiêu, đàn ống tre, cũng như có thể thấy họ hát đối đáp trong dịp lễ hội.

Tại khu trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Chơ-ro được giới thiệu trong trưng bày về các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me Trường Sơn - Tây Nguyên ở tầng 2 của tòa Trống đồng. Các thông tin về hiện vật và bài viết đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ: Việt, Pháp và Anh.

Người viết: Vũ Hồng Nhi


Đến với bảo tàng