Theo kết quả điều tra dân số năm 2019, Việt Nam có 74.173 người Cơ-tu, cư trú lâu đời ở miền núi các tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên - Huế, nối liền với địa bàn phân bố của khoảng 30.000 người Cơ-tu ở tỉnh Sekong (Lào). Người Cơ-tu, người Ta-ôi và người Bru - Vân Kiều gần gũi nhau về văn hóa. Tiếng nói của họ cùng thuộc phân nhóm Katuic trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ-me (ngữ hệ Nam Á).
Người Cơ-tu làm rẫy theo lối chặt phát cây cối, rồi đốt để khai hoang đất, khi gieo trồng thì chọc lỗ - tra hạt, thu hoạch lúa bằng cách dùng tay tuốt từng bông. Họ cũng trồng xen canh ngô, sắn, chuối, dưa, dứa, mía… trên nương, và học người Kinh canh tác lúa nước. Người Cơ-tu chăn nuôi chủ yếu theo tập quán thả rông để lấy vật hiến sinh và làm thực phẩm. Hiện nay, một số gia đình làm giàu bằng việc chăn nuôi bò để bán. Khai thác tài nguyên rừng cùng việc phát triển lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong kinh tế gia đình của người Cơ-tu. Nhiều hộ nhận giao đất giao rừng, phát triển cây công nghiệp. Người Cơ-tu có nhiều nghề thủ công truyền thống như đan lát, làm gốm, dệt chiếu, rèn… nhưng nổi bật nhất là nghề trồng bông dệt vải. Đặc biệt, ngày nay nhiều gia đình vẫn lưu giữ, phát triển được nghề dệt truyền thống. Sản phẩm dệt từ tự cấp đã trở thành hàng hóa.
Làng truyền thống Cơ-tu có tính phòng thủ với vòng rào ngăn cách với bên ngoài, những ngôi nhà sàn mái hình mai rùa của các gia đình dựng thành một vòng xung quanh gươl (nhà của cộng đồng) cao lớn nhất và đẹp nhất, biểu trưng cho uy thế của làng và tài nghệ của dân làng. Tương tự nhà rông ở bắc Tây Nguyên, gươl thời xưa là “nhà đàn ông”, phụ nữ chỉ lên đó vào một số dịp đặc biệt. Kết cấu gươl gồm bốn phần: bộ khung, nóc nhà, vách nhà và cột lễ. Bộ khung gồm một cột chính gọi là cột bố và ba cột phụ gọi là cột mẹ. Nóc gươl là loại kết cấu hai đòn nóc, loại hình duy nhất ở Việt Nam cho đến hiện nay. Vách gươl được trang trí họa tiết chim muông, rắn, thú, người…; đặc biệt, hình tượng con trâu lặp lại nhiều lần.

Nhà gươl người Cơ-tu (Tây Giang, Quảng Nam, 2004)
Người Cơ-tu có khái niệm kabuh (hay tô) tương đương với họ của người Kinh. Có hàng chục kabuh, phần lớn gắn với tên thú vật hoặc cây cối có thật ở địa phương, như Abing - một loại cá trắng ở suối, Ndork - con bò, Bling - kiến vàng, Ating - lá dong… Các thành viên trong cùng một kabuh phải thực hiện một kiêng kỵ nhất định mang tính huyền bí; ví dụ: kabuh Abing không bắt và không ăn cá abing. Họ chung nhau một niềm tin có cùng tổ tiên - chính là loài động vật hay thực vật liên quan đến kiêng kỵ. Do đó, trai gái cùng một kabuh nghiêm cấm lấy nhau. Người Cơ-tu theo phụ hệ, tập tục này chi phối quan hệ dòng họ, gia đình và hôn nhân: tính họ theo cha, trọng con trai, chia tài sản thừa kế cho con trai, hôn nhân vợ về nhà chồng. Trong đám cưới, luật tục quy định sự khác biệt mang tính lễ thức giữa đôi bên thông gia. Theo đó, những thứ nhà trai dành cho nhà gái là: động vật 4 chân, cơm hay gạo tẻ, rượu tà vạc hay trơ đin (nguồn gốc từ cây rừng), chiêng, ché, bát, đĩa, vòng chuỗi cườm và mã não, gùi của nữ giới. Ngược lại, nhà gái dành cho nhà trai những con vật 2 chân và có cánh, thủy sản, động vật không chân, xôi hay gạo nếp, rượu cần, đồ vải, gùi nam giới.
Tương tự ở các tộc người bản địa khác ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, đàn ông Cơ-tu xưa đóng khố, ở trần; phụ nữ quấn váy, mặc áo chui đầu và không có ống tay; nam, nữ đều dùng tấm chăn vải để choàng khi trời lạnh. Trên nền vải màu đen hoặc xanh chàm, hoa văn trang trí được dệt bằng sợi màu, hạt cườm trắng hoặc giá trị nhất là hạt chì. Đồ trang sức gồm nhiều loại, trong đó các chuỗi hạt mã não được ưa thích đặc biệt.


Người Cơ-tu tin rằng có rất nhiều abhui và yàng (ma, thần linh), khiến họ phải thực hiện rất nhiều nghi lễ và kiêng cữ trong săn bắn, canh tác, làm nhà, chữa bệnh... Lễ hiến sinh trâu tổ chức vào các dịp như Tết, mừng lúa mới, mừng nhà mới hay đám cưới… là lễ cúng lớn nhất. Trong các lễ hiến sinh trâu, cột lễ thường được được điêu khắc tỉ mỉ, đẹp mắt, dựng ở sân trước của gươl và là trung tâm diễn ra các hoạt động văn hóa, tôn giáo của cộng đồng. Thông qua nghi lễ mang tính cộng đồng này, người Cơ-tu cầu thần linh chứng giám và phù hộ cho dân làng. Xưa kia, trong trường hợp đặc biệt, người Cơ-tu còn dùng máu người để cúng, gắn liền với đó là tục “săn máu” đã chấm dứt hẳn từ nửa đầu thế kỷ XX.
Trong trưng bày thường xuyên tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Cơ-tu như vũ khí, y phục, nhạc cụ, giỏ tuốt lúa, vật dụng bằng vỏ bầu... được giới thiệu theo các chủ đề cùng với hiện vật của những dân tộc khác trong không gian “Môn - Khơ-me Trường Sơn - Tây Nguyên” ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Nguyễn Thị Thùy Dương
Ảnh: BTDTHVN