image banner
Người Gié-Triêng

Làng của người Gié - Triêng ở xã Đắk Môn (Đăk Glei, Kon Tum, 1996)

Người Gié - Triêng sinh sống từ rất lâu đời ở bắc Tây Nguyên và Nam Lào. Ở Việt Nam, dân tộc Gié - Triêng có 63.322 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2019), cư trú chủ yếu ở tỉnh Kon Tum và miền núi tỉnh Quảng Nam. Cộng đồng Gié - Triêng có 4 nhóm địa phương: Gié, Triêng (T'riêng), Ve và Bnoong; mỗi nhóm có một số nét riêng bên cạnh những yếu tố chung về văn hóa và ngôn ngữ. Ở Lào, Triêng và Gié (Taliêng, Lavi) được coi là hai dân tộc, cư trú ở tỉnh Sekong và tỉnh Attapeu. Ngôn ngữ Gié - Triêng được xếp vào nhóm Môn - Khơ-me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ-đăng và Ba-na.

Cư dân Gié - Triêng trồng trọt chủ yếu trên rẫy, mỗi năm một vụ, đa canh và xen canh: cùng với lúa nếp và lúa tẻ còn có ngô, khoai môn, khoai lang, sắn, bầu, bí... Trong cuộc sống nặng tính tự cấp tự túc trước đây, những sản phẩm được khai thác từ tự nhiên (các loại động thực vật trong rừng và dưới sông suối) cũng có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Vật nuôi (trâu, bò, lợn, gà, sau này có cả dê) chỉ dùng cho các lễ cúng và để đổi lấy những thứ thiết yếu cho gia đình. Trước đây, phụ nữ dệt vải bằng sợi bông tự se và nhuộm chàm; hiện nay, hầu như họ bỏ hẳn trồng bông mà mua len và sợi dệt công nghiệp ở chợ về để dệt vải. Đàn ông đan các loại gùi và nhiều vật dụng khác. Ở Đắk Pék (huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum) có nghề làm gốm theo phương pháp nặn tay (không dùng bàn xoay) và nung lộ thiên truyền thống có từ lâu đời, họ tạo ra các sản phẩm gốm và cung cấp đồ dùng cho cả những tộc người khác trong vùng. Một số nơi thuộc huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum (các xã Dục Nông, Đắk Long, Đắk Pék) có nghề đãi vàng sa khoáng để bán cho thương nhân từ nơi khác tới. Trong vài thập niên trở lại đây, người Gié - Triêng phát triển diện tích trồng quế và trao đổi buôn bán quế, đưa quế trở thành cây trồng quan trọng thứ hai sau lúa.

 

Nhà sàn truyền thống của người Gié - Triêng (Ngọc Hồi, Kon Tum, 2003)Nhà cộng đồng của người Gié - Triêng (Ngọc Hồi, Kon Tum, 2003)

Làng của người Gié - Triêng không lớn. Sau năm 1975, vài nơi ở vùng người Bnoong và người Gié vẫn thấy kiểu nhà sàn dài cổ truyền, cả làng chỉ ở trong một vài ngôi nhà. Ngày nay, hình thức nhà trệt nhỏ đã trở nên phổ biến. Theo nếp xưa, trừ nhóm Bnoong ở miền núi Quảng Nam, các nhóm còn lại đều có tập quán dựng nhà rông - ngôi nhà công cộng của làng. Tùy nơi, ngôi nhà này được gọi là moong hay âng.

Chế độ “song hệ” tồn tại trong cộng đồng Gié - Triêng; theo đó, con trai mang họ của bố, con gái mang họ của mẹ. Mỗi dòng họ có truyền thuyết về cội nguồn xa xưa và cũng nhằm giải thích về tên gọi dòng họ cùng những kiêng cữ liên quan. Sau lễ cưới, đôi tân hôn thường ở với gia đình cô dâu khoảng 3-4 năm, rồi chuyển sang gia đình chú rể. Họ cư trú luân phiên như vậy tới khi cha mẹ một bên qua đời thì ở hẳn với gia đình bên còn lại.

Gắn với chu kỳ đời người, người Gié - Triêng còn thực hiện các lễ thức trong thời kỳ mang thai, trong và sau khi sinh nở, khi đặt tên, trong cưới xin và tang ma. Họ cũng sử dụng nhiều hình thức ma thuật trong cúng bái khi bị đau ốm. Trước kia, người Gié - Triêng có tục cà răng khi trưởng thành, song hiện không còn thực hành tục này nữa.

Trên cơ sở tín niệm vạn vật hữu linh, dân làng chú trọng các lễ cúng, điềm báo và kiêng cữ. Mỗi làng thường có vật thiêng như thứ bùa hộ mệnh, được cất giấu ở rừng và giữ bí mật với người ngoài. Rất nhiều lễ tục được thực hiện trong mỗi mùa rẫy, mỗi đời người, mỗi gia đình, mỗi làng. Nghi lễ thường gắn liền với hiến sinh, lớn nhất là hiến sinh trâu cho “thần lúa”, “thần sấm sét”... Thuở xưa, họ còn dùng cả máu người để tế “thần linh” trong một số lễ cúng đặc biệt của làng. Ngày nay, một số hộ gia đình người Gié - Triêng theo đạo Tin lành nhưng tỷ lệ không nhiều như ở các dân tộc khác ở Tây Nguyên. Tại một số gia đình người Ve, họ cũng có bàn thờ đặt tại gian giữa nhà, trên đó có bát hương và thường đặt ảnh Bác Hồ.

 

Múa mừng cơm mới (Đăk Glei, Kon Tum, 1997). Ảnh: Trần Tấn VịnhMúa chiêng trong lễ hội truyền thống ở Đăk Kroong (Đăk Glei, Kon Tum, 1997). Ảnh: Trần Tấn VịnhThầy cúng Gié - Triêng (Đăk Glei, Kon Tum, 1997). Ảnh: Trần Tấn VịnhĐàn ông Gié - Triêng trong trang phục truyền thống (Kon Tum, 2000)

Nhạc cụ quan trọng nhất của người Gié - Triêng là cồng chiêng. Tùy từng dịp mà cồng chiêng được tấu cùng với trống hoặc ống nứa (vốn cũng là loại nhạc cụ phổ biến để thổi, vỗ, gõ ra âm thanh).

Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật Gié - Triêng: ché, vòng tay, gùi, nhất là những chiếc gùi chế tác công phu với những họa tiết trang trí tinh xảo, được giới thiệu trong không gian “Môn - Khơ-me Trường Sơn - Tây Nguyên”, ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Các thông tin về hiện vật và bài viết đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ: Việt, Pháp và Anh.

Người biên soạn: Vũ Phương Nga

Ảnh: Trần Tấn Vịnh, BTDTHVN

Tin cùng chuyên mục
Đến với bảo tàng
  • Đang online: 1
  • Tất cả: 1