Người Ta-ôi có dân số 52.356 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2019), thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me (ngữ hệ Nam Á), cư trú chủ yếu ở miền núi tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Họ có ba nhóm: Ta-ôi, Pa-co, Pa-hi. Người Ta-ôi gần gũi về văn hóa, ngôn ngữ với các dân tộc Cơ-tu và Bru - Vân Kiều.
Sinh kế chính của người Ta-ôi là canh tác nương rẫy, một số nơi làm cả ruộng nước. Bên cạnh các cây trồng truyền thống (lúa, ngô, sắn…), hiện nay người Ta-ôi còn trồng thêm một số cây trồng mới như cà phê, tre, lồ ô, keo... Vật nuôi phổ biến là gà, lợn, chó, dê, trâu; những năm gần đây, họ phát triển thêm bò, dê, cá thương phẩm. Người Ta-ôi có nghề dệt lâu đời với các sản phẩm được các dân tộc láng giềng ưa chuộng (nhất là y phục có đính hoa văn bằng chì và cườm trắng). Quan hệ giao thương hàng hóa với vùng đồng bằng và Lào có vai trò nổi bật.
Làng (vil/vel) là đơn vị tổ chức xã hội cơ bản và tự quản, tương đối khép kín và mang tính cộng đồng cao của người Ta-ôi. Mỗi làng bao gồm người của các dòng họ khác nhau, mỗi dòng họ đều có kiêng cữ và tên gọi riêng. Quan hệ dòng họ có vai trò quan trọng. Trưởng họ có tiếng nói quyết định trong dòng họ và tham gia giải quyết các vấn đề chung của làng. Hiện nay, cùng với sự tan rã của các đại gia đình, vai trò của dòng họ mờ nhạt hơn. Trước đây, thiết chế quản lý xã hội của làng là Hội đồng già làng, điều hành bằng luật tục. Hiện nay, bộ máy quản lý làng truyền thống được thay thế bằng chính quyền thôn. Ngôi nhà rông - biểu tượng tính cộng đồng làng - hiện không còn tồn tại nhiều và chỉ mang tính hình thức, các chức năng vốn có đã bị mai một.


Hình thái gia đình truyền thống của người Ta-ôi là đại gia đình phụ quyền, cùng chung sống trong một ngôi nhà dài. Trước đây, có nhà dài cả trăm mét với mái uốn khum ở hai đầu hồi. Nơi ở của các hộ gia đình được bố trí ở hai bên, ở giữa là lối đi chung, hai cửa chính ở hai bên chái nhà. Hiện nay, họ thường sống trong những ngôi nhà sàn nhỏ hoặc nhà gạch kiên cố.
Quan hệ hôn nhân một chiều giữa các dòng họ được thực hiện nghiêm ngặt. Đám cưới trải qua hai bước chính: xin dâu và cưới. Trong lễ xin dâu, nhà trai trao lễ vật thách cưới cho nhà gái và đón con dâu về nhà cúng tổ tiên để nhận dâu mới. Đến ngày cưới, nhà gái đến ăn cưới và nhận lễ vật biếu từ nhà trai. Ngày nay, lễ vật thách cưới đã có sự thay đổi, các lễ nghi cưới đã đơn giản hơn nhưng những nét đặc sắc vẫn được giữ gìn.
Người Ta-ôi tin rằng, từ trời, đất, núi, rừng, suối nước, cây cối cho đến lúa gạo, con người, con vật đều có “thần” hoặc hồn. Họ thực hiện nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, chữa bệnh, mở cửa rừng… Ngày nay, nhiều nghi lễ ít được thực hành, quy trình, lễ vật cũng giản lược đi nhiều. Người Ta-ôi cũng phân biệt “chết xấu” (những người chết bất đắc kỳ tử, chết ở đâu chôn luôn ở đó…) và “chết tốt” (người chết già). Chỉ người “chết tốt” mới được chôn ở bãi mộ chung của làng. Sau vài năm, gia đình tổ chức lễ cải táng, đưa hài cốt vào quan tài mới và dựng nhà mồ được chạm khắc, vẽ trang trí đẹp.
Người Ta-ôi có vốn tục ngữ, ca dao, câu đố, truyện cổ khá phong phú, nổi bật là các điệu dân ca: điệu Calơi đối đáp khi uống rượu, hội hè; điệu Ba boih hát một mình khi lao động hoặc đi đường; điệu Roih gửi gắm, dặn dò đối với các bậc con cháu nhân các dịp vui vẻ; điệu Cha chap dành cho tình cảm trai gái của thanh niên... Nhạc cụ gồm nhiều loại: cồng, chiêng, tù và, khèn 14 ống nứa, sáo 6 lỗ, nhị vừa kéo vừa điều khiển âm thanh bằng miệng, đàn Ta lư...
Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Ta-ôi được giới thiệu trong không gian về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ-me Trường Sơn - Tây Nguyên ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Vũ Thị Thanh Tâm
Ảnh: BTDTHVN