1. Đặt vấn đề
Thế giới đang thay đổi rất
nhanh, cùng với thời gian, các giá trị văn hóa, cả giá trị văn hóa vật chất và
giá trị văn hóa tinh thần, cũng không ngừng vận động, biến đổi. Những giá trị
này vừa được bổ sung, vừa được phát triển và nâng cao, đồng thời một số giá trị
có nguy cơ bị mai một hoặc bị vượt qua trước những thay đổi của thời đại. Trong
bối cảnh đó, việc lưu giữ, bảo tồn, lan tỏa các giá trị ấy trở thành nhiệm vụ
vừa cấp bách, vừa lâu dài của hệ thống chính trị, của giới nghiên cứu khoa học
và của toàn thể dân tộc. Để thực thi các nhiệm vụ này, cần phải có những giải
pháp đồng bộ, thiết thực và thật sự hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển
của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
2. Cách tiếp cận và
phương pháp nghiên cứu
Các giá trị văn hóa luôn
được bổ sung, nâng cao trong tiến trình lịch sử, cho nên, cách tiếp cận duy vật
lịch sử được sử dụng. Cách tiếp cận này giúp làm rõ quá trình “gạn đục khơi
trong”, giải thích tại sao một số giá trị cũ mất đi trong khi những giá trị mới
được hình thành và tích hợp, đảm bảo tính kế thừa và sự thích nghi của văn hóa
trước những yêu cầu khách quan của thực tiễn xã hội.
Trên cơ sở đó, phương pháp
phân tích được sử dụng để bóc tách từ việc giữ gìn bản sắc truyền thống đến
việc tích hợp các yếu tố hiện đại như chuyển đổi số và quản trị văn hóa thông
minh. Đồng thời, phương pháp tổng hợp cho phép đúc kết thành hệ thống giải pháp
đồng bộ, vừa củng cố nền tảng tư tưởng chính trị, vừa khơi thông các nguồn lực
vật chất để văn hóa thực sự trở thành động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh
tế - xã hội. Sự kết hợp các phương pháp này khẳng định rằng, giải pháp phát
triển văn hóa không tồn tại biệt lập mà là kết quả của quá trình chắt lọc tinh
hoa quá khứ và thích ứng linh hoạt với yêu cầu vươn mình của dân tộc trong
tương lai.
3. Khái quát một số khái
niệm: văn hóa, vai trò của văn hóa và phát huy các giá trị văn hóa trong đời
sống xã hội
Trên thế giới, người ta đã
đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm hay phạm trù văn hóa.
Chẳng hạn, vào những năm
70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã thống kê được 256 định nghĩa khác nhau
về văn hóa (Xem: D.Paul Scheffer, 1976). Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau:
“Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc
sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang
diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống
các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự
khẳng định bản sắc riêng của mình” (Ủy ban Quốc gia về thập kỷ quốc tế phát
triển văn hóa, 1992: 23).
Không có tham vọng đạt
được sự nhất trí, đồng thuận và thừa nhận của tất cả mọi người, song chúng tôi
cho rằng, “văn hóa chính là trình độ phát triển lịch sử của xã hội và của
con người biểu hiện trong các kiểu, trong các cách thức tổ chức đời sống và
hành động của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra, được tích lũy lại trong quá trình cải biến và tương tác
với thiên nhiên cũng như trong quan hệ với nhau trong xã hội” (Nguyễn Trọng
Chuẩn, 2024: 43).
Như chúng ta đều biết,
trong Thư gửi Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa vào năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về văn hóa
và vai trò của văn hóa trong đời sống của xã hội như sau: “Trong sự
nghiệp vĩ đại kháng chiến kiến quốc của dân tộc ta, văn hóa gánh một phần rất
quan trọng” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5: 577). Người đã khẳng định rất cụ thể và
rõ ràng về trọng trách cao cả của văn hóa mới đối với đất nước và đồng bào ta
như sau: “Văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm
cơ sở” (Báo Cứu quốc, 1946, số 416); “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”
(Báo Cứu quốc, 1946, số 416). Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh có nghĩa
là phải coi văn hóa là một mặt trận; coi văn hóa là sự nghiệp cách
mạng lâu dài, đồng thời đòi hỏi ý chí cách mạng kiên trì và thận trọng
trong cách ứng xử với văn hóa, nhất là với các giá trị văn hóa tiêu biểu
của dân tộc đã được lịch sử thẩm định.
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng cũng đã từng nhiều lần nói và viết về văn hóa, về các giá trị và vai trò
của văn hóa trong lịch sử ngàn đời của dân tộc ta từ xưa đến nay. Theo ông,
“văn hóa Việt Nam là sản phẩm của cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, là kết
tinh những giá trị tốt đẹp nhất, lâu bền nhất của dân tộc, và chính nó đã hun
đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, góp phần làm rạng rỡ lịch sử vẻ
vang của dân tộc” (Nguyễn Phú Trọng, 2024: 96). Ông còn khẳng định rất mạnh mẽ,
rằng “Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc, nói lên bản sắc của dân tộc”; “Văn hóa
còn thì Dân tộc còn” (TG. in đậm – NTC.) (Nguyễn Phú Trọng, 2022: 157).
Với tầm quan trọng đặc
biệt như vậy của văn hóa dân tộc, cần khẳng định rằng, trong bối cảnh hiện nay,
muốn phát huy được các giá trị của văn hóa, trước hết chúng ta phải có
những giải pháp thật hiệu quả. Trong các giải pháp ấy, trước nhất, cần
phải bảo tồn và giữ gìn bằng mọi giá các di sản văn hóa quý báu,
bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, theo hướng bền vững; từ đó
văn hóa mới có thể lan tỏa được sức sống, góp phần thúc đẩy một cách mạnh mẽ,
hiệu quả sự phát triển trên tất cả các mặt khác như kinh tế, xã hội, các sinh
hoạt văn hóa cộng đồng; đồng thời củng cố sự cố kết của toàn thể dân tộc
và đất nước. Để thực hiện tốt những nhiệm vụ này, điều quan trọng là phải thực
hiện cho bằng được mấy việc sau đây:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức và ý thức của cộng đồng về vai trò đặc biệt quan
trọng của văn hóa trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước vô cùng
gian khổ của dân tộc ta qua các thế hệ.
Thứ hai, nâng cao trình độ và khả năng lưu giữ, khả năng bảo tồn, trình độ quản
lý mọi mặt về văn hóa của nước nhà một cách khoa học; phải biết kết hợp khéo
léo giữa nhiệm vụ bảo tồn và nhiệm vụ nâng cao thêm các giá trị văn hóa bằng
các biện pháp, phương pháp, cách thức hiện đại.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa phải biết cách thức khai thác hợp lý,
biết quảng bá ra thế giới một cách có hiệu quả cao và có trách nhiệm cao nhất
đối với các di sản văn hóa vô cùng quý giá của dân tộc.
Thứ tư, do nước ta đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ
Tổ quốc, nên sự thất thoát các di sản văn hóa quý báu là rất lớn; vì vậy, cần
có chính sách hiệu quả, bằng nhiều hình thức phù hợp, nhằm thu hồi và bảo vệ
các di sản này.
Như vậy, có thể nói, nhiệm
vụ thu thập, bảo tồn và quản lý hiệu quả các di sản
văn hóa là một bước rất quan trọng, là tiền đề không thể thiếu trước khi nói
đến việc thực thi các giải pháp cụ thể nhằm khai thác, phát huy ở mức
cao nhất các giá trị văn hóa vô cùng quý giá của dân tộc còn lưu giữ được cho
đến ngày nay, sau khi đã phải trải qua rất nhiều biến động của lịch sử. Có thể
kể đến một trong những biến động điển hình nhất đó là âm mưu thủ tiêu các giá
trị ấy của các thế lực ngoại bang khi xâm lược nước ta. Trong các cuộc xâm lược
từ phương Bắc, kẻ thù luôn tìm đủ mọi cách để hủy diệt cho bằng được các di sản
trong nền văn hóa của dân tộc ta. Điển hình là vào thế kỷ XV, trong Chỉ dụ
gửi Chu Năng và Trương Phụ là những tướng tài của mình ngày 21-8-1406, Minh
Thành Tổ ( Minh Thành Tổ (hay Vĩnh Lạc, tên thật là Chu Đệ, 1360-1424), người
con thứ 4 của người sáng lập vương triều nhà Minh. Minh Thành Tổ là người chủ
trương, lập kế hoạch và chủ trì xây dựng Tử Cấm Thành nổi tiếng ở Bắc
Kinh) viết: “Một khi binh lính đã vào nước Nam … thì hết thảy mọi
sách vở văn tự, cho đến các loại ca lý dân gian, các sách dạy trẻ nhỏ … một
mảnh, một chữ phải đốt hết. Khắp trong nước … các bia do An Nam dựng thì phải
phá hủy tất cả, một chữ chớ để sót lại”. Thế rồi, chín tháng sau đó, trong một Chỉ
dụ khác, cũng chính Minh Thành Tổ lại tiếp tục thúc giục quân sĩ của y như
sau: “Nhiều lần đã bảo các ngươi rằng, phàm An Nam có tất cả sách vở văn tự gì,
kể cả các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ, và tất cả các bia mà xứ ấy dựng
lên, thì dù một mảnh, một chữ, hễ trông thấy là phá hủy ngay lập tức, chớ để
sót lại” (Dẫn theo: Trần Ngọc Thêm, 1996: 485).
Ý đồ tận diệt cho bằng
được tất cả các giá trị văn hóa của dân tộc ta từ phía quân xâm lược phương Bắc
thể hiện rõ tính chất nham hiểm và thâm độc. Tuy nhiên, chính điều này càng
chứng tỏ rõ ràng rằng, sức mạnh của bản sắc và các giá trị văn hóa dân tộc Việt
Nam thực sự đã làm cho quân thù vô cùng khiếp đảm và cũng là nguồn động lực
tinh thần to lớn giúp dân tộc ta vượt qua mọi thử thách lịch sử để tồn tại và
phát triển.
4. Cần xây dựng chiến lược
bài bản và triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm phát huy cao nhất các giá trị
văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên mới của dân tộc
Do văn hóa chứa đựng trong
bản thân nó rất nhiều các thang bậc giá trị khác nhau, đã được chọn lọc, hun
đúc và trao truyền qua các giai đoạn lịch sử của dân tộc, cho nên chúng ta cần
có chiến lược thật sự bài bản, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp căn cơ từ
việc nghiên cứu, phân loại, đánh giá, bảo tồn, cách thức tổ chức, tuyên
truyền, giáo dục; tổ chức các hoạt động giao lưu và quảng bá các giá trị ấy ra
thế giới; tạo điều kiện thuận lợi cho những người hoạt động trong lĩnh vực
văn hóa phát huy tốt nhất mọi khả năng và tài năng vốn có của họ trong điều
kiện toàn cầu hóa đang cạnh tranh vô cùng khốc liệt và diễn biến hết sức phức
tạp, khó lường như hiện nay.
Có thể nói, các nhà
khoa học và nghiên cứu văn hóa có sự nhất trí khá cao về các giá trị cốt lõi
nổi bật trong văn hóa nước nhà qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc. Trong
lịch sử hình thành, trưởng thành và phát triển, cùng với việc phải chống chọi
với những điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên để tồn tại và phát triển, dân tộc
Việt Nam cũng đồng thời phải đấu tranh hết sức gian khổ với các thế lực xâm
lược, bành trướng và thôn tính hung bạo trên thế giới. Từ sự thật lịch sử đó,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ nhiệm vụ mang tính quy luật là: “Dựng nước
đi đôi với giữ nước – là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta”(Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, 2003: 23).
Lịch sử hàng ngàn năm đấu
tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc đã hình thành nên đất nước và con người
Việt Nam với đời sống văn hóa tinh thần phong phú, đa dạng, nhiều sắc màu. Nói
đến giá trị văn hóa của dân tộc ta, trước hết phải nhắc đến các giá trị tinh
thần, các giá trị đạo đức thể hiện trong phong tục, tập quán, vật thể và
phi vật thể đã được hình thành, bồi đắp và lưu truyền rộng rãi dưới nhiều hình
thức và mang bản sắc riêng. Trong đó, có những giá trị văn hóa phản ánh khát
vọng hòa bình, độc lập, tự do, bình đẳng, tiến bộ, nhân tục, tập quán, vật thể
và phi vật thể đã được hình thành, bồi đắp và lưu truyền rộng rãi dưới nhiều
hình thức và mang bản sắc riêng. Trong đó, có những giá trị văn hóa phản ánh
khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, bình đẳng, tiến bộ, nhân văn được kết tinh
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trở thành những truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, như: lòng yêu nước, thương nòi; tinh thần bất khuất, kiên
trung chống giặc ngoại xâm; đạo lý tôn sư trọng đạo; lòng hiếu thảo đối với ông
bà, cha mẹ; tính cần cù, chịu thương, chịu khó; sự hiếu học; tinh thần đoàn kết
cộng đồng;… Tất cả các giá trị đó có thể gói lại ở lòng yêu nước hay tinh
thần yêu nước thiết tha; là tinh thần đoàn kết dân tộc hay sự cố kết dân
tộc chặt chẽ trong mọi hoàn cảnh; là tinh thần hiếu học, lòng tôn sư
trọng đạo; sự siêng năng cần cù; tinh thần sáng tạo trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống và hoạt động xã hội; là đạo đức uống nước nhớ nguồn,
v.v.. Mặc dù có không ít những điểm chung với các nền văn hóa khác, song
tất cả các giá trị đó của văn hóa đã kết tinh thành bản sắc không phai mờ
của văn hóa Việt Nam và không thể trộn lẫn với bất cứ nền văn hóa
nào khác.
Trước hết, chúng ta cần
nói về giá trị của tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, tinh thần đoàn
kết và ý thức gắn kết cộng đồng của dân tộc ta suốt chiều dài lịch sử. Như
Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng, lòng yêu nước, yêu quê hương là giá trị cơ bản
nhất của dân tộc ta (Xem: Trần Văn Giàu, 1980: 72), bên cạnh đó còn có những
giá trị khác, như lòng nhân ái, sự gắn bó cộng đồng, trọng đạo đức, trọng học
thức và tình yêu cái đẹp. Cùng với các giá trị lâu đời ấy, Giáo sư Nguyễn Hồng
Phong cũng đã nhìn thấy những giá trị mới đang hình thành và ngày càng rõ nét
trong xã hội Việt Nam, như sự bình đẳng, công bằng xã hội, vai trò của cá
nhân trong sự phát triển và sự thành công của xã hội. Theo ông, đây là
những giá trị mới trong một xã hội Việt Nam mà không lâu trước đó vốn là xã hội
phong kiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính
yêu đã đúc kết một cách rất cô đọng và vô cùng sâu sắc tinh thần yêu nước ấy
như sau: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu
của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi
nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy
hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh,
2011, tập 7: 38). Chính nhờ có tinh thần yêu nước, kiên cường, dũng cảm, cùng ý
chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết của cả dân tộc đã tạo nên sức mạnh
giúp chúng ta đánh thắng tất cả các cuộc xâm lược của những thế lực quân sự
hùng mạnh qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.
Đặc biệt, tinh thần yêu
nước không chỉ được phát huy mạnh mẽ và hiệu quả trong các cuộc kháng chiến
chống xâm lược trước đây, tiêu biểu là trong thế kỷ XX, mà trong bối cảnh hiện
nay, tinh thần ấy cũng đang được khơi dậy và phát huy vô cùng mạnh mẽ, thật sự
hiệu quả trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nhằm “đưa đất nước
vững bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng, phát
triển” (Tô Lâm, 2025: 7), kỷ nguyên “dân tộc vươn mình”.
Đáng chú ý, truyền thống
và ý thức cộng đồng, tinh thần tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách”, “lá
rách ít đùm bọc lá rách nhiều”, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong hoạn nạn, khó khăn,
không những không bị mai một mà còn được phát huy trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Điều này được thể hiện
rõ nét qua các phong trào quần chúng vô cùng quý giá như giúp nhau xóa đói,
giảm nghèo, xóa nhà tạm, nhà dột nát đang diễn ra sôi nổi trên khắp cả nước
hiện nay. Như vậy, có thể nói, tinh thần, truyền thống cộng đồng, làng xã, sự
gắn kết các cá nhân, gia đình, làng xã với Tổ quốc thân yêu đã có hàng nghìn
năm vẫn là một trong những giá trị nổi bật trong giai đoạn thực thi nền kinh tế
thị trường hiện nay.
Cùng với các giá trị trên,
những giá trị như chăm chỉ, chí thú, cần cù, nhẫn nại, chịu thương, chịu khó và
đặc biệt là tinh thần đổi mới, sáng tạo trong học tập và trong lao động, trong
nghiên cứu khoa học và trong các lĩnh vực sản xuất phục vụ đời sống của dân tộc
ta đã trở thành những giá trị quan trọng của con người Việt Nam. Có thể nói,
trong mọi lĩnh vực hoạt động, tinh thần đổi mới và sáng tạo của con người Việt
Nam là nền tảng quan trọng có tính quyết định đối với sự phát triển và thành
công trong mọi công việc của đất nước.
Tuy nhiên, khi đề cao tính
sáng tạo của thế hệ hôm nay không có nghĩa là chúng ta được phép coi nhẹ những
gì mà tổ tiên ta từ ngàn đời trước để lại. Vì rằng, các giá trị văn hóa truyền
thống được kết tinh cả trong văn hóa vật chất, lẫn văn hóa tinh thần hoặc trong
các nghi lễ văn hóa dân gian, kể cả việc đề cao tinh thần tôn kính tổ tiên
thông qua các tác phẩm văn học hoặc những hình tượng nghệ thuật được lưu giữ
trong các đền thờ, miếu mạo ở nhiều vùng trên khắp cả nước.
Khi bàn đến các giá trị
văn hóa của dân tộc, không thể bỏ qua các giá trị văn hóa truyền thống vô cùng
phong phú nằm trong các loại ẩm thực và cách thưởng thức ẩm thực rất đa dạng và
đặc sắc tại khắp các vùng, miền của đất nước. Phải nói rằng, trong điều kiện
giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở của thời đại toàn cầu hóa, các giá trị văn
hóa ẩm thực qua các món ăn cổ truyền như phở, bánh mì, bún chả, các loại bánh
bột lọc, một số món ăn phổ biến trong cung đình ngày xưa, v.v. cũng ngày càng
được nhiều khách quốc tế ưa chuộng, đánh giá cao, qua đó góp phần quảng bá hình
ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Khi đề cập đến các giá trị
văn hóa truyền thống, nhất định phải nhắc đến những loại hình nghệ thuật
truyền thống phi vật thể vô cùng phong phú, phổ biến khắp cả nước,
đã tồn tại ở nhiều vùng khác nhau, qua nhiều thế kỷ thăng trầm nhưng vốn có sức
sống mạnh mẽ và được nhân dân ta hết sức quý trọng, giữ gìn, cải biến, phát
triển và nâng cao. Đó là các điệu hát xoan, hát quan họ, hát ca trù, hát then,
hát chầu văn, v.v.. Đây là các loại hình nghệ thuật phổ biến, đã và đang được
ưa chuộng, được trình diễn nhiều hơn cả là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ.
Trong khi đó, ở các tỉnh Nam Bộ, đờn ca tài tử là thứ âm nhạc không thể thiếu
trong sinh hoạt thường ngày và tại các lễ hội dân gian. Sự phong phú các loại
hình nghệ thuật này, cả vật thể và phi vật thể, ở các vùng miền khác nhau, bổ
sung và làm phong phú thêm các giá trị văn hóa của đất nước.
Bên cạnh đó, sẽ là thiếu
sót khi nói đến các giá trị của văn hóa vật thể mà không đề cập đến các kiểu
cách kiến trúc đình làng, chùa chiền, miếu mạo, nhà ở vô cùng độc đáo
của đồng bào miền xuôi hoặc kiến trúc nhà rông cực kỳ tinh tế của đồng bào Tây
Nguyên đang thu hút rất nhiều khách du lịch cả trong và ngoài nước. Nói đến di
sản văn hóa vật thể thì không thể bỏ qua các kiểu trang phục truyền
thống vô cùng đẹp mắt và độc đáo của đồng bào các dân tộc, các tộc người trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Chẳng hạn, tấm áo dài với nhiều kiểu cách khác
nhau của phụ nữ miền xuôi; những bộ trang phục thêu thùa hết sức công phu, tinh
xảo của phụ nữ các dân tộc miền sơn cước;… tất cả đều là những sản phẩm nghệ
thuật độc đáo, có một không hai, thể hiện sự tinh tế và mang bản sắc riêng của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Như vậy, nền văn hóa lâu
đời của dân tộc Việt Nam chứa đựng trong nó những giá trị đặc sắc, được xem như
“hồn cốt của dân tộc”. Tuy nhiên, thời gian qua, việc đầu tư khai thác và phát
huy các giá trị này có lúc có chỗ vẫn chưa thực sự tương xứng, chưa kịp thời và
chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Do đó, cần thiết phải xác định và triển khai
đồng bộ những giải pháp phù hợp trong giai đoạn dân tộc Việt Nam vươn mình mạnh
mẽ trong kỷ nguyên mới sau đây:
Trước hết, mọi giải pháp đều phải bắt đầu từ nhận thức, trong đó có sự
tự nhận thức về trách nhiệm của đội ngũ lãnh đạo, của những người được
Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phụ trách lĩnh vực công tác văn hóa;
đồng thời, đây cũng là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị, mà
nòng cốt là các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp.
Thứ hai, cần tổ chức tổng kiểm kê, nghiên cứu, phân loại, đánh giá,
bảo tồn, xác định cách thức tổ chức, khôi phục, tuyên truyền, giáo dục sao
cho thật hiệu quả về hệ thống các giá trị văn hóa. Trong đó, hệ giá trị gia
đình Việt Nam cần được đặc biệt quan tâm, bảo tồn và truyền bá rộng rãi trong
đời sống xã hội.
Thứ ba, cần đổi mới đồng bộ hệ thống quản lý văn hóa, chuyển từ quản lý theo
mệnh lệnh hành chính sang quản lý bằng luật pháp và các công cụ
điều tiết vĩ mô khác; tạo điều kiện để phát huy sáng kiến và sự sáng tạo của
những người có trách nhiệm và có thực tài trong lĩnh vực văn hóa.
Thứ tư, cần hoàn thiện thể chế quản lý văn hóa, giảm thiểu tính
áp đặt hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo và sự hưởng thụ văn
hóa chính đáng của người dân, đồng thời chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những
biểu hiện lệch chuẩn, thái quá, nhất là trong một bộ phận giới trẻ, trái với
thuần phong mỹ tục và các giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc.
Thứ năm, xây dựng và phát huy hiệu quả văn hóa trong chính trị, văn hóa
trong kinh tế, đặc biệt là văn hóa trong kinh doanh và văn hóa
trong Đảng phù hợp với nhu cầu phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa để văn hóa trở thành tấm gương đạo đức cho toàn xã hội, thành
cơ chế điều tiết sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.
Thứ sáu, điều kiện không thể thiếu, nếu không nói là quan trọng bậc nhất, chính
là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành văn hóa, trong đó
có nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý cùng các lĩnh vực then chốt và
đặc thù.
Thứ bảy, các sản phẩm văn hóa có giá trị cao vừa phải được mang ra phục vụ nhu
cầu thưởng thức của nhân dân, vừa phải góp phần quảng bá rộng rãi các giá trị
ấy ra thế giới. Muốn vậy, cần phải phát triển thật tốt thị trường văn hóa và
các ngành công nghiệp văn hóa.
Thứ tám, tiếp thu có chọn lọc những giá trị phù hợp của văn hóa thế giới, cả quá
khứ lẫn hiện tại, góp phần làm giàu văn hóa nước nhà trong điều kiện toàn cầu
hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Thứ chín, mục tiêu cao nhất của việc phát triển và nâng tầm các giá trị của văn
hóa là góp phần thực hiện yêu cầu “phát triển con người toàn diện”, “để văn
hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát
triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” theo tinh thần của Đại hội lần thứ XIII của
Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 115-116); từ đó, góp phần xây dựng
và thực hiện đồng bộ, hiệu quả hệ giá trị quốc gia: Hòa bình, thống
nhất, độc lập, tự do, dân chủ, giàu mạnh, nhân dân hạnh phúc; hệ giá trị văn
hóa Việt Nam: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; hệ giá trị gia đình Việt
Nam: Văn minh, ấm no, hạnh phúc; và chuẩn mực con người mới Việt Nam:
Yêu nước, đoàn kết, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo.
Tất cả các hệ giá trị đó đều nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong
“kỷ nguyên dân tộc vươn mình”.
5. Kết luận
Xuất phát từ tầm quan
trọng đặc biệt của các giá trị văn hóa dân tộc, cần khẳng định rằng, muốn
phát huy được các giá trị của văn hóa trong bối cảnh hiện nay, chúng ta
phải có những giải pháp thiết thực và thật hiệu quả. Trong số đó, việc bảo
tồn và giữ gìn các di sản văn hóa, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn
hóa phi vật thể, theo hướng bền vững giữ vai trò đặc biệt quan trọng; từ đó,
văn hóa mới có thể lan tỏa sức sống, góp phần thúc đẩy một cách mạnh mẽ và hiệu
quả sự phát triển tất cả các mặt khác như kinh tế, xã hội, các sinh hoạt văn
hóa cộng đồng nói chung nhằm tạo nên sự cố kết của toàn thể dân tộc, của đất
nước. Để thực hiện tốt những nhiệm vụ này, điều quan trọng là phải triển khai
đồng bộ và hiệu quả các giải pháp đã nêu. Tất cả các giải pháp đó đều hướng tới
một cái đích chung là phát triển con người toàn diện, để văn hóa và con người
Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, thành động lực phát triển đất
nước và bảo vệ Tổ quốc trong “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”./.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành
Trung ương Đảng.
(2003). Nghị quyết Hội
nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về Chiến lược bảo
vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
2. Báo Cứu quốc.
(1946). Số 416, ngày 25-11-1946.
3. D.Paul Scheffer.
(1976). Aspects of Canadian cultural policy. UNESCO.
4. Đảng Cộng sản Việt
Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Hà
Nội: Nxb. Chính trị quốc gia sự thật.
5. Hồ Chí Minh.
(2011). Toàn tập. Tập 5. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
6. Hồ Chí Minh.
(2011). Toàn tập. Tập 7. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
7. Nguyễn Phú Trọng.
(2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật.
8. Nguyễn Phú Trọng.
(2024). Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia sự thật.
9. Nguyễn Trọng
Chuẩn. (2024). Trụ cột văn hóa – một góc nhìn. Hà Nội: Nxb. Chính trị
quốc gia sự thật.
10. Tô Lâm. (2025). Đột
phá thể chế, pháp luật để đất nước vươn mình. Tạp chí Cộng sản, số
1.061 (5-2025).
11. Trần Ngọc Thêm.
(1996). Bản sắc văn hóa Việt Nam. Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.
12. Trần Văn Giàu.
(1980). Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hà Nội:
Nxb. Giáo dục.
13. Ủy ban Quốc gia về
thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa. (1992). Thập kỷ thế giới phát triển văn
hóa. Hà Nội: Bộ Văn hóa - Thông tin.