Nghị quyết 57-NQ/TƯ: từ đột phá tư duy đến yêu cầu tạo ra sản phẩm phát triển cụ thể
Sau 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày
22/12/2024 của Bộ Chính trị, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số không còn được nhìn nhận như một lĩnh vực chuyên môn đơn lẻ hay một công
cụ hỗ trợ phát triển, mà đang từng bước trở thành nền tảng của mô hình tăng
trưởng mới. Những chuyển biến về nhận thức, thể chế, dữ liệu, hạ tầng số, đổi
mới sáng tạo và phương thức điều hành cho thấy Nghị quyết đã đi vào cuộc sống,
tạo ra chuyển động đồng bộ trong cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên, để tạo ra
bước ngoặt phát triển thực sự, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là phải
chuyển mạnh từ ban hành sang thực thi, từ nhiệm vụ sang sản phẩm, từ nguồn lực
đầu vào sang kết quả đo lường được đối với người dân, doanh nghiệp và năng lực
cạnh tranh quốc gia.
1. Khi khoa học, công nghệ trở thành
trung tâm của tư duy phát triển
Nhìn lại chặng đường 1 năm 6 tháng
triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, có thể thấy dấu ấn quan trọng nhất là từ một
chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị, cả hệ thống chính trị đã chuyển động
đồng thời trên ba phương diện: đổi mới nhận thức phát triển, hoàn thiện thể chế
và tổ chức hành động thực tiễn.
Trước đây, khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số nhiều khi vẫn được tiếp cận như một lĩnh vực
chuyên môn hoặc một công cụ hỗ trợ cho quản lý, sản xuất, cung ứng dịch vụ.
Nhưng qua quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cách nhìn nhận đó đã và
đang có những thay đổi căn bản. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số đang từng bước được đặt vào vị trí trung tâm của mô hình phát triển quốc
gia, ngành, địa phương; trở thành nền tảng quan trọng của tư duy lãnh đạo, điều
hành và hoạch định chính sách trong giai đoạn mới.
Sự chuyển biến trước hết thể hiện ở
nhận thức chính trị và nhận thức xã hội. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã chỉ ra rằng
trong thế kỷ XXI, sức mạnh quốc gia không chỉ đến từ tài nguyên, lao động giá
rẻ hay vốn đầu tư, mà ngày càng đến từ tri thức, công nghệ, dữ liệu, năng lực
đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực khoa học,
công nghệ. Khi hệ quy chiếu phát triển thay đổi theo hướng đó, cách thiết kế
chính sách, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực thi và đánh giá kết quả cũng phải
chuyển từ tư duy hỗ trợ sang tư duy kiến tạo động lực phát triển mới.
Một dấu ấn quan trọng khác là thể chế
đã được chú trọng và đi trước một bước. Theo báo cáo sơ kết, trong 1 năm 6
tháng của Bộ Chính trị, các cơ quan trong hệ thống chính trị đã xây dựng, trình
ban hành hơn 400 văn bản, trong đó có 30 luật; ngân sách bố trí cho khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt 3% tổng chi ngân sách nhà
nước, ở mức cao nhất trong 10 năm. Những con số này cho thấy việc triển khai
Nghị quyết số 57-NQ/TW không dừng ở khẩu hiệu, mà đã được cụ thể hóa thành hành
lang pháp lý, cơ chế tài chính và phương thức quản trị mới.
Cùng với đó, chuyển đổi số đã bắt đầu
có những chuyến biến rõ rệt, có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp
và vận hành của hệ thống chính trị. Cũng trong báo cáo Sơ kết 1 năm 6 tháng
thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ chính trị cho thấy việc phủ mạng 5G đã
đạt khoảng 91,9% dân số, hơn 71 triệu tài khoản định danh điện tử được kích
hoạt, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tại địa phương đạt 93,54%, kinh tế số chiếm 14,02%
GDP, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu xếp thứ 44/139 cho thấy đã có những
chuyển động có thể đo lường được, chứ không chỉ là những định hướng chung về
mặt chính sách.
Điều quan trọng hơn là Nghị quyết số
57-NQ/TW đang làm thay đổi cách nghĩ, cách làm và cách đánh giá kết quả của các
cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Từ chỗ “triển khai nhiệm
vụ”, chúng ta bắt đầu chuyển sang yêu cầu “tạo ra sản phẩm cụ
thể, kết quả đo lường được và tác động thực chất”. Tinh thần đột phá
của Nghị quyết vì vậy không chỉ nằm ở nội dung chính sách, mà còn nằm ở cách
chuyển hóa chính sách thành hành động, sản phẩm, dịch vụ và giá trị phát triển
cụ thể.
Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Tô Lâm về việc khoa học, công nghệ không còn là công cụ hỗ trợ, mà phải
trở thành nền tảng phát triển và động lực chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước đã được hiện thực hóa trên cả hai phương diện: hoạch định chính
sách ở tầm vĩ mô và tổ chức thực hiện ở các cấp, các ngành, các địa phương.
Ở cấp Trung ương, khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành nội dung xuyên suốt trong chỉ
đạo chiến lược. Việc Ban Chỉ đạo Trung ương được thành lập do đồng chí Tổng Bí
thư, Chủ tịch nước làm Trưởng Ban là một tín hiệu chính trị rất mạnh, cho thấy
đây không phải nhiệm vụ riêng của một bộ hay một ngành, mà là chương trình hành
động của cả hệ thống chính trị.
Trong hoạch định chính sách, cách tiếp
cận cũng đã rộng hơn và thực chất hơn. Trước đây, khi nói đến khoa học, công
nghệ, chúng ta thường nói nhiều đến đề tài, dự án, phòng thí nghiệm, công bố
khoa học. Bây giờ, khoa học, công nghệ phải gắn với tăng trưởng, năng suất lao
động, năng lực cạnh tranh, công nghiệp chiến lược, kinh tế số, kinh tế dữ liệu,
quản trị quốc gia và chất lượng phục vụ nhân dân. Sự thay đổi này cho thấy khoa
học, công nghệ đã được đưa ra khỏi phạm vi của một hoạt động chuyên môn hẹp để
trở thành một phương thức tổ chức phát triển, một nền tảng mới của quản trị
quốc gia và năng lực cạnh tranh trong thế kỷ XXI.
Công văn số 3428-CV/VPTW của Văn phòng
Trung ương truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã nêu rõ yêu
cầu tiếp tục quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW là một trong những nghị quyết
chiến lược về phát triển đất nước trong giai đoạn mới; khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu để xác lập mô hình phát triển
mới, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ và sức
mạnh quốc gia trong thế kỷ XXI.
Ở cấp địa phương, nhiều nơi đã không
chờ đợi mà chủ động cụ thể hóa Nghị quyết thành cơ chế, chính sách và mô hình
riêng. Hà Nội là ví dụ đáng chú ý khi ban hành đồng bộ các nghị quyết về ưu
tiên ngân sách vượt mức 3%, quỹ đầu tư mạo hiểm, đặt hàng và nghiệm thu sản
phẩm công nghệ, chính sách đãi ngộ nhân lực số, thử nghiệm có kiểm soát, sàn
giao dịch công nghệ và các mô hình nền tảng số đô thị. Những động thái này cho
thấy địa phương không chỉ tiếp nhận tinh thần Nghị quyết như một nhiệm vụ triển
khai, mà đã bắt đầu chuyển hóa thành các công cụ chính sách cụ thể để thúc đẩy
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực tiễn phát triển đô thị.
Như vậy, thông điệp chiến lược của
Nghị quyết số 57-NQ/TW đã và đang được hiện thực hóa không chỉ bằng văn bản, mà
bằng một phương thức điều hành mới: đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số vào trung tâm của phát triển, đồng thời yêu cầu kết quả phải
cụ thể, có sản phẩm, có người sử dụng và có tác động đo lường được.
2. Từ ứng dụng công nghệ sang tái cấu
trúc mô hình tăng trưởng
Một trong những điểm nổi bật của Nghị
quyết số 57-NQ/TW là tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy phát triển. Khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ được nhìn nhận như
công cụ hỗ trợ, mà đang được xác lập như nền tảng, động lực tăng trưởng của nền
kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trước đây, khi nói về tăng trưởng,
chúng ta thường nhấn mạnh vốn đầu tư, lao động, tài nguyên, xuất khẩu, đầu tư
công. Những yếu tố đó vẫn rất quan trọng, nhưng không còn đủ để đưa đất nước
vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Muốn phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam
phải dựa nhiều hơn vào năng suất, tri thức, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng
tạo và chất lượng quản trị. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác lập rất rõ trục phát
triển này, đồng thời tạo ra cơ sở chính trị và thể chế để chuyển trục phát
triển đó thành các chương trình hành động cụ thể.
Sự chuyển đổi tư duy là việc chúng ta
bắt đầu nhìn dữ liệu như một tư liệu sản xuất mới, một nền tảng quan trọng để
hình thành và phát triển lực lượng sản xuất mới. Trong nền kinh tế số, dữ liệu
không chỉ dùng để lưu trữ hay báo cáo, mà trở thành nguồn nguyên liệu đặc biệt
để phân tích, dự báo, ra quyết định, tạo dịch vụ mới, giảm chi phí xã hội và
nâng cao chất lượng quản trị.
Khi dữ liệu dân cư, định danh điện tử,
dữ liệu tài chính, y tế, giáo dục, đất đai, an sinh xã hội được kết nối, chia
sẻ, làm sạch và khai thác đúng cách, chúng ta không chỉ xây dựng được chính phủ
số, mà còn tạo nền tảng cho kinh tế dữ liệu, xã hội số và năng lực quản trị
quốc gia theo thời gian thực. Đây là bước chuyển rất sâu trong tư duy quản trị,
bởi điều hành phát triển không thể chỉ dựa trên báo cáo hành chính chậm trễ,
phân tán, mà phải tiến tới dựa trên dữ liệu sống, liên thông, có khả năng phân
tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định kịp thời.
Mặt khác sự chuyển biến khoa học, công
nghệ đã bắt đầu được gắn với việc giải các bài toán lớn của quốc gia và lợi thế
phát triển của địa phương. Việc xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược, 30 nhóm
sản phẩm công nghệ chiến lược và 20 bài toán lớn quốc gia cho thấy chúng ta
không còn làm khoa học, công nghệ theo kiểu phân tán, manh mún, mà bắt đầu tập
trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh và năng lực tự chủ.
Khi khoa học, công nghệ được đặt trong các bài toán lớn của quốc gia, giá trị của
nghiên cứu không chỉ nằm ở công bố, nghiệm thu hay báo cáo, mà phải được thể
hiện bằng khả năng giải quyết vấn đề, tạo sản phẩm, hình thành công nghệ và
thúc đẩy tăng trưởng.
Có thể nói, những điều đang diễn ra
không chỉ là việc ứng dụng công nghệ vào một số khâu riêng lẻ trong quản lý,
sản xuất và dịch vụ, mà là sự dịch chuyển sang tư duy dùng khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tái cấu trúc phương thức phát triển. Công
nghệ không chỉ làm cho cái cũ nhanh hơn, tiện hơn, mà phải tạo ra phương thức
sản xuất mới, mô hình kinh doanh mới, năng lực quản trị mới và giá trị phát
triển mới. Đây chính là yêu cầu rất cao của giai đoạn phát triển đất nước sắp
tới.
Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo ra một lợi
thế rất lớn cho Việt Nam: khả năng rút ngắn con đường phát triển. Trong lịch sử
phát triển, nhiều quốc gia đi lên bằng tài nguyên, công nghiệp gia công, lao
động giá rẻ, sau đó mới chuyển sang công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Nhưng
trong bối cảnh hiện nay, nếu đi tuần tự như vậy, Việt Nam sẽ mất rất nhiều thời
gian và có nguy cơ bị mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình. Nghị quyết số
57-NQ/TW mở ra cơ hội để Việt Nam đi nhanh hơn bằng cách đặt khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào trung tâm của mô hình tăng trưởng.
Lợi thế trước hết là lợi thế về quyết
tâm chính trị và khả năng huy động hệ thống. Không phải quốc gia nào cũng có
khả năng tổ chức một chương trình chuyển đổi lớn với sự tham gia đồng bộ của
Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, địa phương, doanh nghiệp, viện trường và
người dân. Nếu được vận hành tốt, đây sẽ là một lợi thế thể chế rất quan trọng,
bởi trong những bước ngoặt phát triển, khả năng huy động và phối hợp hệ thống
có thể tạo ra tốc độ, quy mô và sức lan tỏa mà từng chủ thể riêng lẻ không thể
tạo ra.
Lợi thế tiếp theo là quy mô dữ liệu và
tốc độ chuyển đổi số xã hội. Việt Nam có dân số hơn 100 triệu người, tỷ lệ sử
dụng internet, điện thoại thông minh, thanh toán số, thương mại điện tử và dịch
vụ công trực tuyến tăng nhanh. Nếu dữ liệu được liên thông và khai thác đúng
cách, đây sẽ là nguồn lực rất lớn cho kinh tế số, kinh tế dữ liệu, trí tuệ nhân
tạo và quản trị quốc gia.
Một lợi thế quan trọng khác về nhân
lực. Người Việt Nam có khả năng học nhanh, thích ứng nhanh, linh hoạt với cái
mới. Nếu có cơ chế đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đúng, đội ngũ trí thức, nhà khoa
học, kỹ sư, doanh nhân công nghệ, người trẻ sáng tạo sẽ trở thành nguồn lực rất
lớn. Trong kỷ nguyên của tri thức và công nghệ, lợi thế con người không chỉ nằm
ở số lượng lao động, mà quan trọng hơn là năng lực học hỏi, năng lực sáng tạo,
năng lực thích nghi và khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị mới.
Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm
2025 của Việt Nam xếp thứ 44/139 quốc gia, nền kinh tế (Thu Giang, 2025) cho
thấy Việt Nam có nền tảng và tiềm năng để bứt phá nếu biết tập trung nguồn lực,
chọn đúng bài toán và tổ chức thực hiện quyết liệt. Tuy nhiên, vị trí xếp hạng
chỉ có ý nghĩa thực chất khi được chuyển hóa thành năng suất, công nghệ làm
chủ, sản phẩm thương mại hóa, doanh nghiệp công nghệ mạnh và năng lực quản trị
hiện đại.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đang tạo ra một
khung phát triển mới, nhưng để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển
có thu nhập cao, Việt Nam phải rất kiên trì, rất thực chất và rất kỷ luật trong
thực thi. Lợi thế chỉ trở thành sức mạnh khi được tổ chức thành năng lực, được
chuyển hóa thành sản phẩm, được kiểm chứng bằng thị trường và được đo bằng
những thay đổi cụ thể trong năng suất, chất lượng tăng trưởng và đời sống của
người dân.
3. Giữ đà tăng tốc bằng tháo gỡ điểm
nghẽn và đổi mới cách đo kết quả
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, việc
đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực
phát triển vẫn là một quá trình dài hạn. Sau giai đoạn đầu triển khai Nghị
quyết số 57-NQ/TW, điểm nghẽn lớn nhất là năng lực tổ chức thực hiện và khả
năng phối hợp giữa các chủ thể.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số không thể tạo đột phá nếu bộ, ngành, địa phương, cơ quan quản
lý, doanh nghiệp, viện trường, nhà khoa học và người dân vẫn vận hành như
những “ốc đảo” riêng lẻ. Chủ trương đã rất rõ, quyết tâm chính
trị đã rất cao, thể chế đang được mở mạnh, nhưng nếu khâu thực thi không theo
kịp, nếu dữ liệu không liên thông, nguồn lực không gặp được bài toán thực tiễn,
nhà khoa học không kết nối được với doanh nghiệp, người dân và doanh nghiệp
chưa trở thành trung tâm thụ hưởng, thì đột phá sẽ bị chậm lại.
Trước hết, phải tháo gỡ bằng được điểm
nghẽn dữ liệu, vì dữ liệu là nền móng của chuyển đổi số và quản trị quốc gia
hiện đại. Hiện nay, dữ liệu ở nhiều nơi vẫn chưa thật sự “đúng, đủ,
sạch, sống”; nhiều cơ sở dữ liệu chưa được kết nối, chia sẻ và khai
thác hiệu quả. Khi dữ liệu không liên thông, người dân vẫn phải khai lại những
thông tin Nhà nước đã có, cán bộ vẫn phải xác minh thủ công, doanh nghiệp vẫn
chịu thêm chi phí tuân thủ, còn Nhà nước khó ra quyết định trên nền tảng dữ
liệu theo thời gian thực. Việc còn nhiều cơ sở dữ liệu ở các bộ, ngành chưa
hoàn thành đầy đủ tiêu chí kết nối, trong đó có những lĩnh vực rất quan trọng
như y tế, nội vụ, giáo dục, tài chính, xây dựng, văn hóa, dân tộc, ngoại giao,
cho thấy đây là điểm nghẽn cần được xử lý quyết liệt.
Bên cạnh dữ liệu, phải đổi mới mạnh
hơn cơ chế tài chính và cơ chế thị trường cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng
tạo. Nguồn lực đã được bố trí ở quy mô lớn hơn, nhưng giải ngân còn chậm, đặc
biệt trong các nhiệm vụ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Vì vậy, vấn đề trọng
tâm hiện nay không chỉ là “bố trí đủ nguồn”, mà là phải biến
nguồn lực đó thành nhiệm vụ đủ điều kiện triển khai, thành sản phẩm được vận
hành, thành công nghệ được ứng dụng và thành lợi ích được kiểm chứng.
Muốn vậy, phải tháo gỡ đồng thời hai
điểm nghẽn: điểm nghẽn giải ngân và điểm nghẽn thương mại hóa. Nhiều kết quả
nghiên cứu hiện vẫn dừng ở nghiệm thu, báo cáo, hội thảo, chưa đi tiếp được đến
sản phẩm, doanh nghiệp, công nghệ và thị trường. Cần có cơ chế rõ hơn về sở hữu
trí tuệ, định giá tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ, đặt hàng từ doanh
nghiệp, mua sắm công cho sản phẩm công nghệ mới, đồng thời thúc đẩy phát triển
thị trường khoa học, công nghệ để tri thức không chỉ nằm trong hồ sơ nghiệm thu
mà trở thành giá trị phát triển.
Bên cạnh đó, chúng ta còn thiếu chuyên
gia công nghệ cao, thiếu nhân lực chuyển đổi số ở cơ sở, thiếu tổng công trình
sư, kiến trúc sư trưởng, thiếu cán bộ đủ năng lực quản trị dữ liệu và công
nghệ. Đồng thời, vẫn còn tâm lý sợ sai, né tránh, chờ hướng dẫn tuyệt đối an
toàn. Đây là điểm nghẽn mềm nhưng rất khó xử lý, bởi nó không chỉ nằm ở quy
trình mà nằm trong tư duy hành động, trong tâm lý tổ chức và trong cách đánh
giá trách nhiệm của cán bộ, cơ quan thực thi.
Muốn giữ đà tăng tốc, cần chuyển từ
quản trị theo câu hỏi “đã ban hành gì” sang quản trị theo câu
hỏi “đã vận hành được gì, ai dùng, tiết kiệm bao nhiêu, tạo giá trị gì,
tác động đến người dân và doanh nghiệp ra sao”. Cách đặt vấn đề này có
ý nghĩa rất quan trọng, bởi nếu chỉ đo kết quả bằng số văn bản ban hành, số hội
nghị tổ chức, số hệ thống được xây dựng, chúng ta có thể hoàn thành rất nhiều
nhiệm vụ trên giấy nhưng chưa chắc tạo ra chuyển biến thực chất trong đời sống.
Giai đoạn tiếp theo vì vậy phải chuyển
mạnh từ khởi động sang tăng tốc, từ ban hành sang thực thi, từ nhiệm vụ sang
sản phẩm, từ đầu vào sang kết quả cuối cùng. Trọng tâm đầu tiên là tiếp tục
hoàn thiện thể chế, nhưng phải lấy thực thi làm trung tâm. Thể chế không chỉ là
luật, nghị định, thông tư, mà là khả năng làm cho người dân, doanh nghiệp, nhà
khoa học và cơ quan nhà nước hành động dễ hơn, nhanh hơn, minh bạch hơn và hiệu
quả hơn. Những cơ chế về sandbox, đặt hàng, khoán chi, chấp nhận rủi ro, quỹ đầu
tư mạo hiểm, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thu hút
nhân tài cần tiếp tục được cụ thể hóa để đi vào đời sống.
Một nhiệm vụ cấp bách khác là mở đợt
cao điểm tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số. Công văn số 3428-CV/VPTW đã nêu yêu
cầu xác định lộ trình 100 ngày tập trung tháo gỡ ngay những điểm nghẽn về
chuyển đổi số, khắc phục tình trạng hoàn thành nhiệm vụ nhưng chưa tạo ra sản
phẩm; có nguồn lực nhưng giải ngân chậm; có dữ liệu nhưng chưa kết nối, chia sẻ
và khai thác hiệu quả. Đây là yêu cầu rất đúng và rất cấp bách, bởi chuyển đổi
số chỉ có ý nghĩa khi hệ thống được vận hành thực chất, dữ liệu được khai thác
hiệu quả và người dân, doanh nghiệp cảm nhận được lợi ích trong quá trình sử
dụng.
Bên cạnh đó, dữ liệu phải trở thành
tài sản chiến lược của quốc gia. Phải hoàn thành các cơ sở dữ liệu quan trọng,
chuẩn hóa, làm sạch, kết nối, chia sẻ, bảo đảm an toàn và khai thác có hiệu
quả. Phải phát triển các nền tảng dùng chung để tránh đầu tư phân tán, trùng
lặp, lãng phí. Khi dữ liệu được coi là tài sản chiến lược, quản trị dữ liệu
không thể là việc kỹ thuật đơn thuần, mà phải trở thành một cấu phần quan trọng
của quản trị quốc gia hiện đại.
Một trọng tâm khác là phát triển khoa
học cơ bản, công nghệ chiến lược và công nghiệp công nghệ cao. Một quốc gia
muốn tự chủ thì không thể chỉ nhập khẩu, lắp ráp và ứng dụng công nghệ của
người khác. Phải đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản, cho phòng thí nghiệm trọng
điểm, cho nhân lực nghiên cứu trình độ cao, cho các công nghệ chiến lược như
trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng
lượng mới, công nghệ lượng tử, UAV, an ninh mạng, công nghệ môi trường. Công
văn số 3428-CV/VPTW cũng nhấn mạnh yêu cầu ưu tiên phát triển khoa học cơ bản
với tầm nhìn dài hạn, định hướng từ giáo dục phổ thông.
Đặc biệt, cần đặt doanh nghiệp vào
trung tâm đổi mới sáng tạo. Nhà nước có vai trò dẫn dắt, viện trường có vai trò
cung cấp tri thức, nhưng doanh nghiệp mới là nơi biến công nghệ thành sản phẩm,
biến sản phẩm thành thị trường, biến thị trường thành tăng trưởng. Cần thúc đẩy
mạnh mô hình ba nhà: Nhà nước – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp, trong đó doanh
nghiệp tham gia từ khâu đặt bài toán, đồng tài trợ, thử nghiệm, thương mại hóa
và mở rộng thị trường. Khi doanh nghiệp trở thành chủ thể trung tâm của đổi mới
sáng tạo, khoa học và công nghệ mới có thêm con đường ngắn hơn để đi từ phòng
thí nghiệm, báo cáo nghiên cứu đến sản phẩm, thị trường và năng lực cạnh tranh.
Có thể nói, nếu làm tốt những nhiệm vụ
này, Nghị quyết số 57-NQ/TW sẽ không chỉ là một nghị quyết quan trọng về khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, mà sẽ trở thành một bước
ngoặt trong tư duy phát triển Việt Nam. Khi khoa học gặp được khát vọng quốc
gia, khi công nghệ gặp được thể chế mở, khi dữ liệu gặp được quản trị hiện đại,
khi nhà khoa học và doanh nghiệp được trao cơ hội làm việc lớn, Việt Nam sẽ có
cơ sở để bứt phá mạnh mẽ hơn trong kỷ nguyên phát triển mới, hiện thực hóa mục tiêu
phát triển nhanh, bền vững và trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao.
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương (2026). Công
văn số 3428-CV/VPTW về việc ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư về việc sơ kết 1
năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Bộ Chính trị (2026). Báo cáo Sơ kết 1
năm 6 tháng thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về
đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc
gia.
Thu Giang (2025). Việt Nam duy trì xếp
hạng 44 về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu 2025. Báo điện tử Chính phủ ngày
16/9/2025.
TS. Đỗ Thị Kim Anh
Nguồn bài viết: Cổng thông
tin Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam