
Người Tà-ôi ở Việt Nam có dân số 52.356 người (2019). Họ có tên gọi
khác là Tà-ôi, Pa Cô, Tà Uốt, Kan Tua, Pa Hy..., với các nhóm địa phương: Tà-ôi,
Pa Cô, Pa Hy. Người Tà-ôi là
dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ-me, sinh sống lâu đời ở Trường Sơn.
Áo nữ truyền thống của
dân tộc Tà- ôi là áo ngắn, kiểu chui đầu, không có ống tay. Áo thường có chiều
rộng lớn hơn chiều dài, được may bằng cách gập đôi theo chiều ngang một tấm vải
lại rồi khoét cổ và khâu ghép ở hai bên sườn.
Đây là lối may đơn giản và cổ xưa nhất của loài người khi mới biết may trang phục.
Chiếc áo này dài 54cm, rộng 61,5cm.
Nền áo có màu đen nhuộm
chàm, những trang trí trên áo được tạo ra bằng cách dệt xen các sợi màu đỏ,
vàng, và dùng hạt cườm trắng xâu vào sợi ngang để tạo thành hoa văn ngay trong
lúc dệt tấm vải. Trước kia, người Tà-ôi dùng hạt
chì để dệt tạo ra hoa văn trên vải nhưng do hạt chì nặng và độc nên hiện nay họ chuyển sang dệt hoa văn bằng
hạt cườm. Hoa văn ở gấu áo là hai hình tam giác đấu đầu với nhau, và những đường
thẳng đan chéo với nhau tạo những hình thoi, phía trên thân áo có điểm xuyết
hình cỏ cây, hoa 4 cánh và hình thoi bằng hạt cườm xen kẽ với những dải sợi màu,
chủ yếu là màu đỏ. Những mô típ hoa văn này, theo người Tà-ôi, là “lá
đùng đình”, “người múa dạ dạ”, “hoa mua”, “chân gà”, “ngôi sao”.... Người Tà-ôi
cũng hay dùng vải đỏ, vải trắng khâu viền ở gấu, cổ, các lỗ xỏ tay và khâu nối ở
hai sườn áo.
Áo chỉ mặc với váy ngắn
(từ thắt lưng trở xuống). Thường ngày họ có thể mặc áo cũ, đến ngày lễ hội người
ta diện áo mới, đẹp.
Ngày nay người Tà-ôi vẫn
mặc loại áo này, nhưng người ta không trồng bông để kéo sợi nữa mà mua chỉ sản
xuất công nghiệp về xe sợi để dệt vải. Một số người đã may kiểu áo cộc tay. Ở
người Cơ-tu láng giềng cũng phổ biến loại áo nữ cổ truyền như ở người Tà-ôi.
Chiếc áo này do chị Ploong He - con dâu bà
Kăn Mo dệt năm 1992 và mới mặc được 1 năm. Sau đó, Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam sưu tầm chiếc áo này ở A Đớt, A Lưới, Huế ngày 2/8/1996.
Chiếc áo được trưng bày tại gian trưng bày
các dân tộc nói nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ-me Trường Sơn – Tây
Nguyên, tầng 2, tòa Trống đồng, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Thông tin về hiện vật được
thể hiện bằng ba ngôn ngữ: Việt, Pháp và Anh.