
Dân tộc Mạ là cư dân bản địa
ở Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ-me, có dân số 50.322 người
(2019), cư trú chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng và một phần ở tỉnh Đồng Nai. Người
Mạ dùng nhiều loại nhạc cụ trong sinh hoạt đời sống của mình trong đó có bộ
chiêng, cồng, đàn tre, khèn bầu, kèn môi, kèn sừng trâu, sáo trúc, đàn đá… Trong
số các nhạc cụ của người Mạ, khèn bầu M'buốt
(còn gọi là khèn bầu 6 ống) là nhạc cụ có cấu tạo phức tạp và khả năng diễn tấu
phong phú.
Loại nhạc cụ này có thể dùng để đệm hát, múa, hòa tấu cùng các
nhạc cụ khác trong các dịp lễ hội. Trai tráng trong buôn làng dùng khèn bầu để
thổ lộ tình cảm với người yêu…
Để làm một chiếc khèn bầu đẹp, người Mạ thường chọn những quả
bầu có thân vừa phải, tròn đều, vỏ ngoài láng đều, không bị sâu bọ chích hút,
cổ thuôn dài và phần gần cuống hơi cong. Quả bầu phải đủ độ già để lớp vỏ dày,
cứng, không bị dễ vỡ. Những quả bầu già khoét một
lỗ phía đầu cuống để lấy hạt giống. Mang quả bầu đi ngâm dưới bùn, bên cạnh khe
suối cho ruột quả bầu rữa ra. Khoảng hai tháng
sau, người Mạ lấy quả bầu lên moi hết phần ruột. Phần xơ bầu còn sót lại trong
quả phải lấy sạch sẽ. Đem quả bầu treo lên giàn bếp
để hơi khói làm khô, bóng, tăng độ bền, tránh mối mọt
và thấm nước, đồng thời tạo màu vàng nâu cho quả bầu.
Chế tác khèn bầu không quá phức tạp,
song đòi hỏi sự khéo léo của đôi tay người nghệ nhân. Ở công đoạn này người chế
tác tỉ mỉ dùng dao để tiện, gọt, khoét..., tránh làm sứt mẻ quả bầu khô. Người
chế tác sẽ cắt bỏ phần đầu cuống để tạo thành lỗ nhỏ làm nơi thổi. Thân bầu được
khoét sáu lỗ xuyên qua hai lớp vỏ bầu để lắp ống khèn. Có
6 ống nứa nhỏ, đường kính 2cm, dài ngắn khác nhau (ống dài nhất khoảng 70cm, ống
ngắn nhất khoảng 30cm) cắm xuyên qua đó. Các ống nứa
được xếp theo thứ tự từ dài đến ngắn và chia thành hai hàng, hàng trên là 4 ống
ro-râm, thơ, thi
me, hàng dưới có hai
ống thong, đơl.
Mỗi ống đều gắn một lưỡi gà bằng tre ở phần nằm trong vỏ bầu và khoét các lỗ
nhỏ ở đoạn dài bên ngoài vỏ bầu.
Khèn bầu M’buốt
chỉ dành riêng cho nam giới, thậm chí kiêng kỵ nữ giới cầm vào. Khi chơi, áp bầu
âm vào bụng, các ống nứa chĩa ra ngoài, miệng ngậm vào đỉnh cổ bầu và thổi, còn
các ngón tay bịt và mở các lỗ ở ống nứa, áp lực của hơi thổi
làm rung lưỡi gà và tạo thành nhạc điệu.
Với người Mạ, khèn bầu gắn bó rất gần gũi và không thể thiếu
trong đời sống tinh thần. Người Mạ sử dụng khèn bầu 6 ống trong các lễ hội cộng
đồng, lễ lên nhà mới, lễ ăn hỏi… Trong các lễ hội này, khèn bầu 6 ống được sử
dụng thổi theo làn điệu bài hát. Những giai điệu của khèn bầu mang theo tâm sự
buồn vui trong cuộc sống.
Khèn bầu M’buốt này được chế tác cách đây 30 năm, do ông K'Liêng cùng gia đình ở Lâm Đồng sử dụng. Khèn bầu được Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam sưu tầm ngày 7/8/2004 tại Lâm Đồng và hiện được trưng
bày tại gian trưng bày Môn – Khơ-me, tầng 2, tòa Trống
đồng. Thông tin về hiện vật được thể hiện bằng ba
ngôn ngữ: Việt, Pháp và Anh.