Trong mỗi gia đình người Hà
Nhì ở xã Y Tý, tỉnh Lào Cai đều có ít nhất
một mâm cơm truyền thống được đan từ mây, tre, hoặc cây giang hay cây mai để
phân biệt với chiếc mâm hiện đại được làm bằng nhôm xuất hiện gần đây. Theo
quan niệm của người Hà Nhì, mâm cơm là biểu tượng cho đất trời, sự sung túc,
viên mãn và sum vầy.
Trong ngôi nhà trình
tường của người Hà Nhì tại Vườn kiến trúc của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
(Bảo tàng), hiện đang trưng bày một mâm cơm của người Hà Nhì được Bảo tàng sưu tầm năm 2004 từ gia đình anh Vù (người Hà Nhì Đen) tại xã Y Tý, tỉnh Lào Cai. Chiếc
mâm này có đường kính 84cm và chiều cao 32cm, được gia đình anh Vù mua vào
tháng 7 âm lịch năm 2003 và gia đình anh đã sử dụng trong dịp Tết Giáp Thân năm
2004.

Mâm cơm của gia đình
anh Vù được Bảo tàng sưu tầm năm 2004
Đối với người Hà Nhì, mâm
cơm không chỉ đơn giản là vật dụng hàng ngày mà nó còn là vật dụng quan trọng không thể thiếu trong các dịp lễ tết, trọng thể như: lễ Khô Già Già (Lễ cầu mùa), tết Ga Tho Tho (Tết cổ
truyền), tết Gạ Ma O (Tết Thiếu nhi). Trong các lễ tết này, các gia đình người Hà Nhì dùng chiếc mâm truyền thống để bày lễ vật cúng ở trong nhà và cúng ở lán thờ
trong lễ Khô Già Già (tại khu rừng cấm) để dâng cúng thần linh và tổ
tiên. Mỗi khi nhà có khách, họ cũng mang mâm mây ra mời rượu, mời cơm, thể hiện
tấm chân tình và lòng hiếu khách. Ngoài ra, chiếc mâm này
còn giống như một tác phẩm nghệ thuật, thể hiện những họa tiết, hoa văn đẹp mắt
và tạo hình độc đáo bằng kỹ thuật đan khéo léo, tỉ mỉ của người Hà Nhì.
Theo kinh nghiệm của
người Hà Nhì Đen ở xã Y Tý, để hoàn thiện một chiếc mâm truyền thống, phải trải
qua nhiều công đoạn. Công đoạn đầu tiên là chuẩn bị nguyên liệu. Nguyên liệu đều
được lấy từ tự nhiên, tại các cánh rừng của địa phương gồm: mây, tre, hoặc cây giang,
mai. Khâu chọn nguyên liệu phải căn cứ theo mùa, theo thời điểm. Để có nguyên
liệu tốt nhất làm mâm, người Hà Nhì thường phải vào sâu trong rừng chọn cho được những cây tre, giang, mai già có độ dẻo dai tốt
và nên lấy từ mùa thu
trở đi (từ tháng 8 đến tháng 10 âm lịch) và phải vào cuối tháng, bởi nếu chọn vào mùa hè hoặc đầu tháng, cây lúc đó “ngậm
nước” thì dễ bị mối mọt, mâm sẽ nhanh hỏng.
Kỹ thuật đan
mâm của người Hà Nhì là đan từng bộ phận rồi
dùng dây mây ghép lại. Đầu tiên là dựng khung, sau đó đan chân đế và vành
mâm, cuối cùng là đan mặt mâm. Để có chiếc mâm đẹp, trước khi đan, người Hà Nhì
phải chuốt dây mây và nan tre thật đều và bóng sau đó mới bắt tay vào đan. Chân
mâm được đan đầu tiên, người Hà Nhì dùng các nan tre, giang hoặc mai theo kiểu
đan hình chữ “X” dọc theo thân mâm. Vành mâm được đan bằng mây theo kiểu đan
nong đôi, tay phải thường xuyên thắt thật chặt các nút đan, tạo thành
những mảng xoắn bện kín và khít vào nhau một cách chắc chắn. Mặt mâm đan
cuối cùng, phải dùng ba lớp nan tre, hoặc giang, mai được chẻ bản to và bào cho
nhẵn, đan chéo 6 nan với nhau, sao cho mỗi nốt đan là hình lục giác, nhìn xa
như những bông hoa được xếp liền kề nhau. Đây là công đoạn khó nhất, đòi hỏi
người đan phải tỉ mỉ, cẩn thận và rất khéo léo, đặc biệt phải có sự tính toán
hợp lý thì vòng của chân, thân và mặt mâm mới khớp nhau. Để chiếc mâm bền đẹp
có màu đen bóng và không bị mối mọt, người Hà Nhì sẽ treo mâm vừa đan lên gác
bếp để hàng ngày mâm được hong khói, tạo thành một lớp màu thời gian bảo vệ mâm.
Việc đan mâm của người Hà Nhì cần nhiều thời gian và sức khoẻ nên công việc này
thường do nam giới đảm nhận.
Để chiêm ngưỡng
hoa văn và kỹ thuật đan mâm của người Hà Nhì, mời các bạn đến ngôi nhà trình
tường bằng đất độc đáo tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.